Cuộc Sống

Nhà Phật chỉ ra 4 kiểu người phúc mỏng mệnh khổ không thay đổi sớm sẽ gặp bất hạnh

Nếu thấy bản thân là một trong bốn kiểu người dưới đây thì hãy nhanh chóng thay đổi bản thân. Nếu cố sống như vậy chắc chắn sẽ tự nhấm chìm cuộc đời mình. Trong “Thái thượng cảm ứng thiên” có nói: “Phúc họa không tự tìm đến cửa, tất cả đều do con người […]
592

Nếu thấy bản thân là một trong bốn kiểu người dưới đây thì hãy nhanh chóng thay đổi bản thân. Nếu cố sống như vậy chắc chắn sẽ tự nhấm chìm cuộc đời mình.

Trong “Thái thượng cảm ứng thiên” có nói: “Phúc họa không tự tìm đến cửa, tất cả đều do con người tự tạo ra.” Thật ra vận mệnh của con người chính là nhân quả, nếu một người thường xuyên trồng ác nhân (làm việc xấu) tất nhiên về sau sẽ khổ sở vô phúc.

Dưới đây là bốn kiểu người thường có cuộc đời không mấy sáng sủa, mệnh khổ phúc mỏng, hãy xem xem có bạn trong đó hay không!

1. Người không hiếu thuận với cha mẹ

Hiếu thuận với cha mẹ là nghiệp lành lớn nhất của đời người, là phúc báo mà Phật giáo khuyên nên làm nhất trên đời. Nếu một người không hiếu thuận với cha mẹ ắt sẽ gặp tai ương quả báo trong đời, ngược lại người hiếu thuận với cha mẹ thì người đó sẽ tạo ra phúc lớn cho con cháu sau này và gặp được nhiều điều may mắn trong cuộc sống.

Có một câu chuyện Phật dạy về lòng hiếu thảo như này: Thời xuân thu có một người con tên là Mẫn Tử Khiên, mẹ mất sớm cha lại lấy mẹ kế và có hai người em. Mẹ kế thường xuyên bạc đãi cậu. Mùa đông đến mẹ may cho cậu một chiếc áo dùng bằng cỏ lau còn hai người em lại là áo lông.

Vừa lúc cha sai cậu chở ông đi xa bằng xe ngựa. Vì thời tiết quá lạnh, gió thổi mạnh, quần áo lại không đủ ấm nên cậu không thể điều khiển xe. Người cha trông thấy thì bực tức nghĩ rằng cậu cố tình ăn mặc như vậy để bêu xấu mẹ kế, vào lúc tức giận ông dùng roi quất Tử Khiêm.

Kết quả là áo trên người cậu rách, bông lau bay khắp nơi, lúc này cha mới biết người mẹ đó ngược đãi con mình. Khi về nhà liền đuổi người mẹ kế đi.Dù vậy Mẫn Tử Khiên đối với người mẹ đó vẫn một mực kính trọng. Cậu quỳ xuống xin cha đừng đuổi mẹ, đến lúc này lòng hiếu thảo của Tử Khiêm đã làm cha cậu xuôi giận, và mẹ kế cảm thấy hổ thẹn.

Chúng ta ai cũng là con cả, vì ai cũng có cha có mẹ, để cho ta hình hài như ngày hôm nay cha mẹ đã chịu biết bao khổ nhọc, chúng ta là những kẽ cùng tử lang thang rồi gặp duyên rồi về làm con. Trong kinh Tạp Bảo Tạng Phật dạy “đối với cha mẹ dù làm một chút điều bất thiện cũng chịu tội báo rất khổ, cúng dường cha mẹ dù một chút ít cũng được phước báu vô lượng, đối với cha mẹ phải hết lòng siêng năng phụng dưỡng cha mẹ”. Cha mẹ là nhưng người mình phải tôn phải quý phải kính thờ, mình mà xúc phạm dù một chút thôi là mình bị mắc cái báo rất là lớn.

2. Người hay giận dữ, quát mắng người khác

Lời nói ra có thể mang đến tác dụng tốt mà cũng có thể là lưỡi dao sắc bén khiến người nghe tổn thương. Những lời nói quan tâm, an ủi có thể xoa dịu nỗi đau trong lòng, làm vơi đi tâm trạng buồn bã. Lời nói nhã nhặn, khuyên răn kịp thời có thể làm thay đổi suy nghĩ tiêu cực của đối phương, từ đó dần làm thay đổi những hành vi, việc làm bất thiện.

Ngược lại, những lời nói ác khẩu, sỉ nhục, lăng mạ có thể đẩy con người vào vực thẳm tội lỗi, khiến người ta ăn năn hối hận cả cuộc đời.Theo luật nhân quả của Phật giáo, một việc làm, một câu nói, một ý niệm suy nghĩ, dù là thiện hay bất thiện đều dẫn đến một kết quả nhất định.

Bởi vậy, người xưa mới nói rằng “Phàm làm việc gì, đều cần suy nghĩ đến hậu quả của nó”, hay “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Những người thường dùng lời lẽ thâm độc để mắng nhiếc, làm nhục người khác, trong cuộc sống hàng ngày, trước hết chính bản thân người ấy đã thể hiện bản chất thiếu đạo đức, thiếu văn minh trong lời nói. Từ đó làm hạ thấp uy tín của bản thân, khiến người xung quanh dần xa lánh họ.

3. Người thường xuyên sát sinh

Theo đức Phật, sát sinh hay sát hại là một trong những tập khí bất thiện, xấu ác, có tác hại vô cùng lớn lao đối với đời sống cá nhân cũng như đời sống xã hội. Chúng ta dù là con người hay loài vật cũng là những chúng sanh vô minh đang luân hồi trong sáu nẻo, rồi cũng chết đi theo quy luật tự nhiên, cớ gì sống mà gây đau khổ cho loài khác.

Chẳng khác nào hình ảnh mà Đức Phật đã dạy cho đệ tử: Một đàn bò xếp hàng vào lò mổ, nhưng chúng vẫn đấu đá, xô xát lẫn nhau để kết oán thù. Mỗi bữa ăn, một miếng thịt đối với chúng ta là một món ăn nhưng đối với loài vật là cả một sinh mạng của chúng!

Vì thế người đệ tử Phật luôn tâm nguyện và thực hành không giết hại chúng sinh. Chẳng những không giết hại mà còn phóng sinh, tích cực bảo vệ sự sống và môi trường xanh sạch.

4. Người mang khẩu nghiệp

Trong mười nghiệp của con người thì khẩu nghiệp là bốn, tức gần một nửa. Đó là: Chuyện không nói có, chuyện có nói không; Nói lời hung ác; Nói lưỡi hai chiều; Nói lời thêu dệt.Đức Phật đã dạy ở đời luôn có luật nhân quả, đừng bao giờ nói xấu hay làm chuyện hại người. Bạn hãm hại người khác thì sẽ có người hãm hại lại bạn. Bạn lừa dối người khác cũng có người khác lừa dối bạn.

Ngược lại lời nói cũng có thể đưa con người vào vực thẳm của tội lỗi, có thể khiến người ta phải ăn năn hối hận cả cuộc đời. Trong đó lời nói ác ngữ, ác khẩu là một trong những nguyên nhân đưa đến hậu quả như thế.Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường đối đãi với nhau, cái miệng phải luôn mỉm cười, nhạy lời xin lỗi và trọng lời cảm ơn, hiếu thuận với cha mẹ của mình, có như thế mới gặp được may mắn, kéo dài tuổi thọ và tạo nhiều phúc cho con cháu.

Tổng hợp

Cuộc Sống

10 lời Phật dạy giúp bạn không phạm những sai lầm đáng tiếc trong cuộc sống

Cuộc sống chưa bao giờ là dễ dàng, để vượt qua những trở ngại cần tiếp thêm cho mình niềm tin và nghị lực. Cùng suy ngẫm về 10 lời Phật dạy trong cuộc sống nhé! 1. Lúc vui dễ bị lỡ lời ổ nhân thường hay rằng “Vui không thể vui đến cực điểm”. […]
516

Cuộc sống chưa bao giờ là dễ dàng, để vượt qua những trở ngại cần tiếp thêm cho mình niềm tin và nghị lực. Cùng suy ngẫm về 10 lời Phật dạy trong cuộc sống nhé!

1. Lúc vui dễ bị lỡ lời

ổ nhân thường hay rằng “Vui không thể vui đến cực điểm”.

Bạn đã bao giờ rơi vào trường hợp “lỡ lời” nói ra những câu nói không hay với người khác chưa? Trong những hoàn cảnh này, lý trí của bạn bạn đã bị những cảm xúc nội tâm không tốt chi phối. Cổ nhân thường nói rằng: “Vui không thể vui đến cực điểm”.

Bởi vì khi con người ở vào cực độ của vui thì “tuyến phòng ngự” của tâm lý sẽ không còn. Thông thường sẽ không giữ được miệng mà nói những lời làm tổn thương người khác hoặc những lời không phù hợp, dẫn đến hối tiếc không kịp.

2. Nói khoác quá dễ đánh mất lòng tin

Sống ở đời niềm tin là yếu tố vô cùng quan trọng.

Nói dối là nói không đúng sự thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có. Sống trong xã hội, người nào nói dối là tự mình làm mất lòng tin của mọi người. Người xưa quan niệm rằng, lời nói khi đã nói ra khỏi miệng mà không thực hiện được là một việc rất đáng xấu hổ, nói dối rất tai hại cho sự chung sống, lâu dần trở thành một cái tật rất khó diệt trừ.

Sống ở đời, niềm tin là yếu tố vô cùng quan trọng, xây dựng lên thì khó nhưng đánh mất đi lại rất dễ.

3. Say mê quá dễ bị mất đức

Say mê quá dễ bị mất đức.

Khi bạn quá say mê điều gì đó thì lời nói của bạn dễ bị phần dối trá, phóng đại, bạn có thể bất chấp tất cả để dành được nó cho dù hành động của bạn có xấu xa. Sau cùng, đến khi nhận quả báo cay đắng thì hối hận cũng đã quá muộn.

4. Chất chứa nhiều ắt sẽ mất mát nhiều

Ai cũng có danh vọng, đam mê tiền tài lợi lộc, nhưng hãy biết điểm dừng.

Người có nhiều tham vọng danh lợi thì nhất định lao tâm lao lực hao tổn tinh thần, kết quả cái mất đi sẽ càng lớn. Dẫu biết rằng ai cũng có danh vọng, đam mê tiền tài lợi lộc, nhưng hãy biết điểm dừng, giữ cho tinh thần được thoải mái, mọi việc tự khắc sẽ bình yên.

Sống trên đời, danh lợi, tài phú thực sự là vật ngoại thân. Đừng vì quá theo đuổi những điều này mà làm nguy hại bản thân. Như vậy chính là “bỏ gốc lấy ngọn”, “cái được không bù nổi cái mất”.

5. Sợ quá dễ bị mất khí tiết

Sợ quá dễ bị mất khí tiết.

Khi bạn quá sợ hãi một điều gì đó, nội tâm sẽ không còn giữ được sự tỉnh táo, lập trường của bản thân vô tình sẽ bị biến mất. Bạn trở nên bị động, không tìm được lối đi đúng đắn cho mình.

Có rất nhiều nỗi sợ hãi mà bạn chắc chắn trải qua trên đường đời, lúc đó thay vì hoảng loạn, sợ hãi hãy bình tĩnh và tìm hướng giải quyết bằng sự bản lĩnh của mình.

6. Dục vọng quá nhiều dễ nguy hiểm tính mạng

Biết dừng lại đúng lúc chính là khí chất đầu tiên của người thành công.

Cố nhân dạy: “Chim chết vì miếng mồi. Con người tham quá dễ mất mạng”. Con người nếu quá say mê với công danh lợi lộc, ham muốn vật chất sẽ chẳng thể nhận được kết thúc tốt đẹp. Nội tâm sẽ luôn bị giằng xé bởi tiền tài, sống trong lo âu bứt dứt, bỏ qua những thời khắc quan trọng nhất, cuộc đời trôi đi hoàn toàn trong vô vị.

Trong “Đạo Đức Kinh”, Lão Tử dạy: “Biết đủ sẽ không nhục, biết dừng sẽ không nguy”. Làm người không chất chứa quá nhiều dục vọng, mù quáng đuổi theo tư lợi, mà phải biết dừng lại đúng lúc. Như vậy, mới có thể giữ cho tâm hồn tĩnh tại, tìm được niềm vui thật sự trong tâm tôn. Biết dừng lại đúng lúc chính là khí chất đầu tiên của người thành công.

7. Lúc đau buồn dễ bị mất nhan sắc và tinh thần

Khi đau buồn nhất rất dễ bị mất nhan sắc.

“Nhan” ở đây không chỉ riêng về nhan sắc mà còn nói về tinh thần bên trong. Khi bạn gặp phải chuyện gì đau lòng sẽ rất dễ rơi vào trạng thái suy sụp, khủng hoảng, bạn không chấp nhận được việc đó. Trong cuộc sống muôn màu muốn vẻ này sẽ có đủ loại buồn khổ, điều bạn cần làm là hãy thật mạnh mẽ, tự tin bước về phía trước, bỏ qua tất cả những thê lương phía sau.

8. Lúc mừng rỡ dễ dàng bị sơ suất trong việc giám sát

Lúc vui mừng nhất rất dễ sơ suất trong giám sát

Lúc mừng rỡ thường sẽ cảm thấy việc gì cũng vừa ý, vừa mắt, hài lòng, nhưng khả năng phân biệt đúng sai, tốt xấu sẽ bị suy giảm, khả năng suy xét cũng bị xem nhẹ. Vì vậy sẽ bị sơ suất trong việc, không xem xét kỹ một vấn đề, một sự việc hay một người nào đó. Từ đó dẫn đến đánh giá sai lầm.

9. Lúc tức giận dễ bị thất lễ

Lúc nổi nóng dễ thất lễ với nhiều người xung quanh.

Trong cuộc sống hàng ngày, nếu như tức giận với người nhà, bạn bè, mọi người khác thì không chỉ làm tổn hại đến mối quan hệ tình cảm giữa hai người mà còn làm tổn hại lớn đến sức khỏe của bản thân. Khi đang tức giận, mọi người thường quên mất hạn độ mà làm ra những việc thất lễ và hối hận. Vì vậy, mỗi người nên học cách tự kiềm chế bản thân mình, bình tĩnh trước mọi sự việc xảy ra.

10. Lúc kinh động dễ đánh mất trạng thái

Khi bị kinh động rấ dễ đánh mất trạng thái ban đầu.

Con người khi bị kinh động bởi một việc nào đó thì dễ dàng đánh mất trạng thái của bản thân. Muốn giữ được trạng thái bình thản của mình, phải luôn luôn bảo trì được tâm bình an. Người xưa nói rằng, không quan tâm hơn thua, núi Thái Sơn sụp đổ trước mắt mà sắc mặt không đổi, tư tưởng, nhân tâm bất động… Đây đều là muốn nói cho mọi người biết rằng phải tu dưỡng một tâm ổn định, bình thản, hờ hững đối mặt với những vinh nhục, những biến cố trong cuộc đời.

Trên đây là 10 lời Phật dạy để giúp bạn tránh được những tai ương không đáng có. Hy vọng bạn đọc sẽ hiểu được những ý nghĩa sâu xa của cuộc sống và đối nhân xử thể một cách nhân văn nhất.

Cuộc Sống

Lưu tâm 10 lời Phật dạy để thấy đời an vui

Lắng nghe lời Phật dạy để thấy đời an vui, buông bỏ những phiền não, khổ đau trong tâm trí để có một cuộc sống an lành. Theo đạo Phật, căn nguyên của khổ đau, phiền não là do ham muốn của con người. Tâm ham muốn nhiều mà chẳng đạt được nên mới sinh […]
195

Lắng nghe lời Phật dạy để thấy đời an vui, buông bỏ những phiền não, khổ đau trong tâm trí để có một cuộc sống an lành.

Theo đạo Phật, căn nguyên của khổ đau, phiền não là do ham muốn của con người. Tâm ham muốn nhiều mà chẳng đạt được nên mới sinh ra phiền não, khổ đau. Một trong những câu hỏi đau đáu nhất của đời người chính là: “Làm thế nào để sống một cuộc đời hạnh phúc hơn?”. Sống trên đời này có ai lại không mưu cầu hạnh phúc, có ai lại không muốn cuộc sống đầy đủ, ấm no, an lạc?

Hãy lắng nghe lời Phật dạy để thấy đời an vui, buông bỏ những phiền não, khổ đau trong tâm trí để có một cuộc sống an lành.

Dù vậy, mỗi người lại có định nghĩa hạnh phúc riêng, cũng như có cách để tìm kiếm hạnh phúc riêng. Hãy lắng nghe lời Phật dạy để thấy đời an vui, buông bỏ những phiền não, khổ đau trong tâm trí để có một cuộc sống an lành.

Thọ tự tại: Ta đừng bận tâm cuộc đời này dài hay ngắn, chỉ cần quan tâm rằng ta làm thế nào để sống thật tốt.

Nghiệp tự tại: Chúng sinh tùy nghiệp mà sống, tùy nghiệp mà đầu thai, tùy phiền não nghiệp tập mà thành nghiệp lực.

Sinh tự tại: Sinh ra là do hữu duyên, sinh ra ở đâu, làm con nhà nào đều là do duyên tiền nghiệp báo, không thể thay đổi.

Hãy nhớ rằng đời này vốn vô thường, cái gì tới sẽ tới, cái gì đi sẽ đi.

Nguyện tự tại: Người có tâm nguyện, ước vọng thì khó mà tự do tự tại, tốt hơn hết hãy biến thành hư nguyện, thành tâm mà làm việc thiện, còn kết quả ra sao thì vạn sự tùy duyên.

Tâm tự tại: Sống trên đời phải làm sao cho tâm tự do, tự tại, không tham lam, không phiền muộn cũng chẳng dục vọng, ham muốn.

Như ý tự tại: Hãy nhớ rằng đời này vốn vô thường, cái gì tới sẽ tới, cái gì đi sẽ đi. Dù có ra sao thì con người cũng chẳng thể cản trở hay nẽ tránh duyên phận, nhân quả, nên cứ bình thản mà đón nhận tất cả.

Pháp tự tại: Tu hành thì viên mãn, độ hóa khắc giác ngộ, nhất tâm chấp niệm Phật giáo.

Thắng thua tự tại: Thắng bản thân mình là cái thắng lớn nhất, thua bản thân mình là cái thua lớn nhất.

Trí tự tại: Tích trí hành thiện, sống lương thiện với người, với đời. Người có trí thì tâm tinh thông, người không trí thì đầu ngu dốt. Trí là để nâng cao bản thân mình, không phải vì hư danh, phú quý.

Tích trí hành thiện, sống lương thiện với người, với đời. Trí là để nâng cao bản thân mình, không phải vì hư danh, phú quý.

Người xưa có câu: “Nhẫn một chút sóng yên gió lặng, lùi một bước biển rộng trời cao“. Lùi một bước chẳng phải là hèn nhát, chịu nhục mà đó là cảnh giới của trí huệ, là chân lý của hạnh phúc. Đừng mong rằng mọi sự sẽ thuận theo ý mình, vì thuận theo ý mình thì lòng sẽ kiêu căng, chẳng bao giờ biết đủ.

Trong cuộc sống, có những khi ta sẽ rơi vào tình huống không mong muốn, khiến ta phiền não, khổ sở. Ta có thể tìm cách né tránh, lờ chúng đi nhưng vấn đề sẽ vẫn còn đó. Né tránh không bao giờ là cách hay để giải quyết vấn đề, tốt nhất vẫn là đi xuyên qua nó, dũng cảm đối mặt.

Không trải qua mưa bão, làm sao nhìn thấy được cầu vồng“, không phải cứ né tránh việc khó thì cuộc sống sẽ an yên, hạnh phúc. Đối mặt với khó khăn chỉ khiến lòng ta thêm vững vàng, ý chí càng sắt đá, sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách trên đời.

Cuộc Sống

Lời Phật dạy: Muốn làm người lương thiện trước hết phải hiếu thảo với cha mẹ

Đừng bao giờ đợi đủ điều kiện mới quan tâm cha mẹ. Ở đời, muốn làm người lương thiện trước hết phải biết hiếu thảo với mẹ cha. Trên đời này, chắc chắn chỉ có cha mẹ mới là người duy nhất có thể dành cho bạn tình yêu thương vô điều kiện, còn cả […]
196

Đừng bao giờ đợi đủ điều kiện mới quan tâm cha mẹ. Ở đời, muốn làm người lương thiện trước hết phải biết hiếu thảo với mẹ cha.

Trên đời này, chắc chắn chỉ có cha mẹ mới là người duy nhất có thể dành cho bạn tình yêu thương vô điều kiện, còn cả thế giới ngoài kia nhất định cứ phải có điều kiện mới thương yêu bạn…Bởi thế nên đời người nhất định phải lấy chữ Hiếu là gốc, phải sống biết trước biết sau, lúc nào yêu thương, quan tâm cha mẹ của mình.

Đời người sống phải biết lấy chữ Hiếu làm gốc

Phật dạy cách cải thiện số phận là hành thiện làm việc tốt, chăm giúp đỡ người khác, mà trong đó, hiếu thảo với cha mẹ là việc căn bản nhất. Còn bất hiếu với cha mẹ là nghiệp ác phải gánh nợ nhiều nhất. Phật giáo lấy chữ hiếu làm đầu, hiếu thuận với cha mẹ là nghĩa vụ hàng đầu của con cái, là đạo lý làm người cơ bản. Tình cảm với cha mẹ là tình cảm từ tâm, càng nhiều càng phát tiết ra ngoài.

Con người chúng ta hỏi có ai sinh ra mà không cần có mẹ cha.

Thế nào là trọn vẹn chữ Hiếu? Ðầu tiên mình phải biết nghe lời dạy dỗ của cha mẹ, không chống đối, không làm ngược lại lời cha mẹ. Phải hết sức cung kính nghe theo lời cha mẹ dạy.

Đã bao giờ chúng ta tự hỏi mình còn bao nhiêu thời gian để gặp bố mẹ? Bao lâu rồi chúng ta chưa về nhà? Có phải bạn cứ nghĩ rằng mình còn nhiều thời gian để về thăm bố mẹ không? Một năm bạn về thăm nhà 1 lần, tính ra thì 10 năm nữa cũng chỉ là 10 lần…vậy thì bạn còn được gặp bố mẹ 10 lần, có khi là ít hơn.

Thời nay chúng ta lúc nào chạy theo đồng tiền, nghĩ rằng càng nhiều tiền thì sẽ càng hạnh phúc. Nhưng sự thật thì hoàn toàn không phải vậy, cứ mải kiếm tiền mà quên mất việc báo hiếu, ở bên cạnh bố mẹ thì cả đời này chúng ta sẽ sống trong sự hối hận.

Chúng ta hiện hữu trên cõi đời bắt đầu từ sự thương yêu và kết hợp của cha mẹ mà hình thành.Tình thương yêu của cha mẹ luôn dành cho con hoàn toàn không có điều kiện, miễn sao được mạnh khỏe và ngoan hiền là cha mẹ thỏa nguyện, an lòng. Vì lẽ đó, ân đức của bậc cha mẹ được ví như núi cao, biển rộng…

Hiếu thuận với cha mẹ, vận may tìm đến mình

Ơn cha cao như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ sâu rộng hơn biển cả. Sống trọn một kiếp người, chưa chắc đền đáp được hết ơn nghĩa của cha mẹ. Đừng nghĩ phụng dưỡng cha mẹ là nghĩa vụ, đó là phúc phận may mắn nhất của đời người. Có hiếu với cha mẹ, mới nhận được phúc khí của thiên hạ và được Thần Phật độ trì, vạn sự như ý.

Nếu không thể bao dung được cha mẹ, mọi lòng tốt với thiên hạ chỉ là giả dối.

Làm việc hiếu, lòng hướng thiện, sẽ có được tất cả, hậu vận viên mãn vô cùng. Bằng không sẽ rơi vào bể khổ triền miên, không thể tìm thấy bến bờ an lạc. Hiếu thuận với cha mẹ có thể xây dựng trường khí vững mạnh, gia đình hòa ái, kính trên nhường dưới thì đứa trẻ lớn lên tự khắc sẽ biết hiếu thuận ngoan ngoãn.

Từ đó mà phong thủy cùng vận khí của gia đình cũng được cải thiện theo chiều hướng tích cực, tràn đầy năng lượng. Tự dưng người trong nhà cũng cảm thấy vận mệnh của mình khá lên rõ rệt. Các cụ ta có câu “phúc đức tại mẫu”, con cháu hưởng ân đức của cha mẹ, chính cha mẹ sẽ mang tới tốt lành, tài phú cho con trẻ.

Sống thì phải nhớ, trưởng thành thì nhất định phải trưởng thành nhưng chớ đừng vô tâm với những người đã sinh thành và nuôi dưỡng mình. Có như thế mới sống tử tế và làm người lương thiện được.

Cuộc Sống

Những lời Phật dạy về cuộc sống hay nhất ai cũng nên biết

Đức Phật từng dạy “đạo không nằm trên bầu trời, đạo ở trong tim”, chỉ những người biết lắng nghe, biết sám hối, biết buông bỏ mới có thể tìm đến được cuộc sống an yên. Chân cốt của Phật pháp chính là muốn hướng con người đến chân – thiện – mỹ của cuộc […]
288

Đức Phật từng dạy “đạo không nằm trên bầu trời, đạo ở trong tim”, chỉ những người biết lắng nghe, biết sám hối, biết buông bỏ mới có thể tìm đến được cuộc sống an yên.

Chân cốt của Phật pháp chính là muốn hướng con người đến chân – thiện – mỹ của cuộc đời. Mỗi lời Phật dạy là một câu chuyện, một bài học cuộc sống. Dưới đây tổng hợp những lời Phật dạy về cuộc sống hay nhất:

1. Nguồn gốc mọi đau khổ của con người chính là luyến ái.

2. Dứt bỏ nóng giận, diệt trừ tính kiêu căng, không luyến ái vật chất, không còn ham muốn dục vọng, sẽ giải thoát được mọi sự ràng buộc và không bao giờ bị phiền não.

3. Khi ta vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi ta đau khổ, hãy nghĩ rằng nỗi đau khổ này cũng không trường tồn.

4. Đừng có khẳng định về tư tưởng cách nghĩ của ta quá, như vậy sẽ ta đỡ phải hối hận, cắn rứt và đau khổ hơn.

5. Đừng nên có thái độ bất mãn người khác hoài mà hãy quay về kiểm điểm chính ta. Bất mãn người khác là tự chuốc khổ cho chính mình.

6. Khi ta thành thật được với chính mình, thế giới sẽ không ai lừa dối ta.

7. Người chinh phục chính mình còn vĩ đại hơn một nghìn lần người chinh phục ngàn người trên chiến trường.

8. Nếu không tìm thấy ai để hỗ trợ trên con đường tâm linh, hãy đi một mình. Không ai đồng hành với người chưa trưởng thành cả.

9. Không có nỗi sợ hãi với những ai tâm trí không ngập tràn ham muốn.

10. Nếu có điều gì đáng làm, hãy làm nó bằng tất cả trái tim.

11. Chính bạn phải phấn đấu. Các chư Phật chỉ vạch ra con đường.

12. Do ta cứ xem những chuyện đơn thuần thành quá nghiêm trọng nên ta sẽ rất đau khổ.

13. Từ bi là vũ khí lớn nhất của ta và của tất cả mọi người.

14. Ta hãy cần đối diện với sự thật thì ta mới vượt qua được sự thật.

15. Một người không biết yêu thương chính mình thì người đó sẽ không bao giờ biết yêu thương mọi người xung quanh.

16. Thế giới này vốn không thuộc về mình, do đó mình không cần bỏ nó. Cái mình cần vứt bỏ chính là tính Chấp của mình. Mọi vạn vật nó đều cung ứng cho mình nhưng nó không thể thuộc về mình mãi mãi.

17. Có lúc ta muốn thầm hỏi mình, ta đang đeo đuổi cái gì? Ta sống vì cái gì?

18. Nếu ta có thể đứng ở góc độ của người để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi.

19. Yêu quý hết thảy muôn loài.

20. Con không là những gì con nói mà là những gì con làm.

21. “Bí quyết để có sức khỏe cho cả tinh thần lẫn thể xác không phải là hờn trách quá khứ hay lo sợ về tương lai, mà là sống trong giây phút hiện tại một cách khôn ngoan và nghiêm túc.”

22. “Lời nói có sức mạnh vừa phá hủy, vừa hàn gắn. Khi lời nói vừa chân thành, vừa hòa ái, chúng có thể thay đổi cả thế giới.”

23. “Con chỉ mất khi con còn nắm giữ.”

24. “Không ai có thể cứu ta ngoại trừ chính ta. Không ai có thể và không ai sẽ làm thế. Chúng ta phải đi trên con đường của chính mình.”

25. “Hãy chỉ dạy ba sự thật này cho chúng sinh: một trái tim nồng hậu, lời nói hòa ái, một cuộc đời phụng sự và từ bi là những thứ sẽ làm nhân loại đổi mới.’

26. “Cái chúng ta đang là là kết quả của những gì ta nghĩ. Cái chúng ta nghĩ nằm trong niệm và chính cái ta nghĩ làm nên niệm. Nếu một người nói và hành động bởi một niệm ác thì nỗi khổ bám theo anh ấy như cái bánh xe bị con thú kéo đi. Nếu một người nói và hành động với một niệm lành thì hạnh phúc sẽ đến với anh ấy như bóng với hình, chẳng bao giờ tách rời.”

27. “Bí quyết của toàn bộ đời sống là không có gì để sợ. Đừng bao giờ lo sợ con sẽ trở thành ai trong tương lai, con không lệ thuộc vào ai cả. Chỉ có khoảnh khắc con rũ bỏ mọi thứ con mới được tự do.”

28. “Không gì ghê gớm hơn thói quen hay nghi hoặc. Nghi hoặc chia rẽ con người. Nó là chất độc làm gãy đổ tình bạn và làm tan vỡ những mối quan hệ tốt lành. Nó là cái gai gây phiền toái và gây đau nhức; nó là lưỡi gươm gây chết người.”

29. “Đừng ganh tỵ với những phẩm chất tốt của người, nhưng hãy chấp nhận chúng bằng sự khâm phục của con.”

30. “Bình yên đến từ bên trong. Đừng tìm nó bên ngoài.”

31. “Một người bạn gian trá và xấu tính thì đáng sợ hơn cả một con thú hoang; con thú hoang chỉ có thể làm tổn thương thân thể con, nhưng một người bạn như vậy sẽ làm tổn thương cả tâm trí của con.”

32. “Trên bầu trời thì không thể phân biệt được đâu là hướng Tây, đâu là hướng Đông. Con người tạo ra những sự chia chẻ trong tâm trí của mình và tin rằng những điều ấy là đúng.”

33. “Sau cùng, đây là những vấn đề quan trọng: Con đã yêu chân thành như thế nào? Con đã sống trọn vẹn ra làm sao? Con đã thả cho bay nhiều đến chừng nào?”

34. Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, mới có thể thay đổi người khác.

35. Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc, tôi không có dép để mang thì tôi lại phát hiện có người không có chân.

36. Tốn thêm một chút tâm lực để chú ý người khác chi bằng bớt một chút tâm lực phản tỉnh chính mình, bạn hiểu chứ?

37. Sống một ngày vô ích, không làm được chuyện gì, thì chẳng khác gì kẻ phạm tội ăn trộm.

38. Lương tâm là tòa án công bằng nhất của mỗi người, bạn dối người khác được nhưng không bao giờ dối nổi lương tâm mình.

39. Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Bạn càng nguyền rủa họ, tâm bạn càng bị nhiễm ô, bạn hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của bạn.

40. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.

41. Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao bạn lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm tại sao bạn phải chứa đầy những não phiền như vậy?

42. Mỗi người ai cũng có mạng sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được điều đó, thậm chí trân quý mạng sống của mình hơn. Người không hiểu được mạng sống thì mạng sống đối với họ mà nói chính là một sự trừng phạt.

43. Một người nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì lòng họ sẽ không bao giờ được thanh thản.

44. Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.

45. Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin bạn “Đa khẩu hạ lưu tình”.

46. Vốn dĩ không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa bạn là ai? Giả sử bạn bị chó điên cắn một phát, chẳng lẽ bạn cũng phải chạy đến cắn lại một phát?

47. Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ đến người bạn không hề yêu thích.

48. Mong bạn đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của mình, có như vậy người khác mới khả dĩ tiếp nhận.

49. Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao bạn lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm tại sao bạn phải chứa đầy những não phiền như vậy?

50. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì bạn hiểu nó quá ít, bạn không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc, bạn sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của bạn.

Phật Học

Lời Phật dạy về người bạn tốt

Người bạn tốt theo lời Đức Phật dạy là người biết chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ, biết nhẫn nhịn lời nói hiền lành, có ứng xử và hành động đẹp, không bỏ bạn lúc gặp nguy hiểm, không khinh chê bạn lúc gặp khó khăn. Một trong những yếu tố quan trọng trong […]
126

Người bạn tốt theo lời Đức Phật dạy là người biết chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ, biết nhẫn nhịn lời nói hiền lành, có ứng xử và hành động đẹp, không bỏ bạn lúc gặp nguy hiểm, không khinh chê bạn lúc gặp khó khăn.

Một trong những yếu tố quan trọng trong cuộc sống, giúp chúng ta vượt qua những nghịch cảnh và thành công trong cuộc đời đó là có người bạn tốt.

Trong cuộc sống, có mấy ai thành công mà không gặp phải đôi lần thất bại. Có muốn được những trái thơm quả ngọt thì ta phải bỏ công ra sức vun phân tưới nước cho hạt giống mà mình đã gieo, trong đời sống cũng vậy, chúng ta muốn thành công và đạt được những mục đích lí tưởng thì mình cần phải nổ lực, ra công, bỏ sức, tinh thần và vật chất để ước mơ của chúng ta được thành tựu tốt đẹp. Mặt dù ta đã đặt nhiều hy vọng vào tiêu của mình nhưng kết quả đôi khi không tốt đẹp như những gì mà mình mong muốn, lúc ấy ta cảm thấy hụt hẫn tinh thần suy sụp, tuyệt vọng và không còn ý chí để vươn lên. Chính lúc ấy bạn tốt là người rất cần thiết và cấp bách, họ giống như chiếc phao nâng đỡ giúp ta vượt qua giữa biển đời đầy sống gió. Vậy bạn tốt là người như thế nào? Làm sao để ta có được những người bạn tốt?

Một trong những yếu tố quan trọng trong cuộc sống, giúp chúng ta vượt qua những nghịch cảnh và thành công trong cuộc đời đó là có người bạn tốt.

Theo tuệ giác của Thế Tôn trong kinh Tăng Chi Bộ 2, chương 5, phẩm Tikandaki, phần người bạn. Có kể rằng:

Một thời Thế Tôn trú ở núi Gijihakita, dạy các thầy Tỳ kheo:

“Thành tựu bảy chi phần, này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo phải thân cận những người bạn tốt , thế nào là bảy? Cho những gì khó cho, làm những gì khó làm, nhẫn những gì khó nhẫn, nói lên những gì bí mật của mình, che giấu bí mật của người khác, không từ bỏ khi gặp bất hạnh, không có khinh rẻ khi tài sản khánh tận. Thành tựu bảy chi phần này, này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo cần phải thân cận như một người bạn.”

Bạn cho điều khó cho, làm những điều khó làm, kham nhẫn những lời nói, thật khó lòng kham nhẫn, nói lên bí mật của mình, che giấu bí mật của người, bất hạnh không từ bỏ, khánh tận không chê khinh, trong những trường họp trên, tìm được người như vậy, với ai cần bạn hữu, hãy gần bạn như vậy.

Người bạn tốt là người biết chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ, biết nhẫn nhịn lời nói hiền lành, có ứng xử và hành động đẹp.

Thực tế trong cuộc sống có không ít người vươn lên thành công nhờ vào sự dìu dắt và nâng đỡ của bạn tốt, tuy vậy để tìm được người bạn tốt để kết thân gần gũi và học hỏi là một điều không mấy dễ dàng.

Theo tuệ giác của Thế Tôn, qua bài kinh trên bạn tốt là người biết chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ, biết nhẫn nhịn lời nói hiền lành, có ứng xử và hành động đẹp, không bỏ bạn lúc gặp nguy hiểm, không khinh chê bạn lúc gặp khó khăn. Với những đức tính trên người nào có được chính là bạn tốt. Những ai có phước duyên gặp được những người bạn tốt như trên thì chúng ta cần phải trân trọng, giữ gìn những tình cảm tốt đẹp ấy để xây dựng một cuộc sống an vui và hạnh phúc.

Tịnh Độ

Lời Phật dạy về pháp môn niệm Phật

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, rừng Jetavana. Tại đấy, Thế Tôn dạy các Tỷ kheo: Có một pháp này, này các Tỷ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Một pháp ấy là gì? Chính […]
51

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, rừng Jetavana. Tại đấy, Thế Tôn dạy các Tỷ kheo: Có một pháp này, này các Tỷ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật

Chính một pháp này, này các Tỷ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn.

Có một pháp này, này các Tỷ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Một pháp ấy là gì?

Chính là niệm pháp….niệm Tăng…..niệm Giới….niệm Thí….niệm Thiên….niệm Hơi thở vô…..niệm Chết…..niệm Thân….niệm An tịnh.

Chính một pháp này, này các Tỷ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn.

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 1, phẩm Một pháp, phần Niệm Phật, VNCPHVN ấn hành 1996, tr.64)

Niệm Phật là nhớ nghĩ, quán tưởng, tâm niệm hướng về một đối tượng duy nhất là Thế Tôn.

Lời bàn: 

Niệm Phật là pháp môn tu học rất phổ biến của hàng Phật tử. Chỉ một pháp này, nếu được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ đưa đến nhất hướng, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Niệm Phật được những người con Phật tu tập từ thời Thế Tôn còn tại thế và duy trì đến tận ngày nay.

Niệm Phật là nhớ nghĩ, quán tưởng, tâm niệm hướng về một đối tượng duy nhất là Thế Tôn; với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp; với bốn tâm vô lượng, bốn đức vô uý, mười trí lực, mười danh hiệu……Tu tập niệm Phật sung mãn sẽ thành tựu chành niệm tức viên mãn Bát Thánh Đạo, chứng đắc thắng trí, Niết bàn.

Không riêng pháp môn niệm Phật mà niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niện Thí, niệm Thiên, niệm Hơi thởi ra – Hơi thởi vô, niệm Chết, niệm Thân và niệm An tịnh….nếu được tu tập sung mãn đều có thể đạt đến giải thoát. Phật pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn tu nhưng chỉ cần tu tập một pháp là viên mãn tất cả các pháp giống như trăm sông đều xuôi về biển và thuần nhất một vị mặn; vị an lạc, giải thoát, Niết bàn.

Trong truyền thống Phật giáo phát triển, tông Tịnh Độ chủ trương niệm Phật A Di Đà. Dù có đôi chút khác biệt so với phương thức niệm Phật nguyên thủy song vẫn kế thừa trọn vẹn tinh hoa và bản sắc của tinh thần niệm Phật thời Thế Tôn. Niệm danh hiệu Phật A Di Đà đến nhất tâm bất loạn là chánh niệm, cơ sở vững chắc của vãng sanh và giải thoát.

Mặt khác, chư Phật trong mười phương vốn đồng nhất thể, niệm một danh hiệu Phật tức đồng thời niệm vô lượng Phật. Theo lời Phật dạy, chỉ cần một pháp, tùy duyên mà mỗi người có thể niệm Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Phật Dược Sư, Bồ tát Quán Thế Âm hoặc niệm Pháp, niệm Tăng. Với tất cả thành tâm, tịnh tín, nỗ lực, tinh cần tu niệm một pháp thì chắc chắn người con Phật sẽ thành tựu chánh niệm và giải thoát sanh tử luân hồi.

Phật Pháp Vấn Đáp

Lời Phật dạy: Vô minh là cấu uế lớn nhất

Cấu uế tức các phiền não nói chung là nhân tố chính làm trở ngại sự thăng hoa tâm trong lộ trình tu tập. Tâm của chúng ta có vô vàn cấu uế, mỗi loại có một ảnh hưởng đến một khía cạnh khác nhau trong quá trình thanh lọc tâm. Một thời, Thế Tôn […]
22

Cấu uế tức các phiền não nói chung là nhân tố chính làm trở ngại sự thăng hoa tâm trong lộ trình tu tập. Tâm của chúng ta có vô vàn cấu uế, mỗi loại có một ảnh hưởng đến một khía cạnh khác nhau trong quá trình thanh lọc tâm.

Một thời, Thế Tôn ở Vesàli, tại Mahavàna, dạy các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, có tám cấu uế này. Thế nào là tám?

Này các Tỷ kheo, không đọc tụng là cấu uế của Thánh điển; không thức dậy là cấu uế của nhà; biếng nhác là cấu uế của dung sắc; phóng dật là cấu uế của phòng hộ; ác hạnh là cấu uế của đàn bà; xan tham là cấu uế của bố thí; các ác pháp là cấu uế của đời này và đời sau. Nhưng này các Tỷ kheo, còn có cấu uế lớn hơn các cấu uế, vô minh là cấu uế lớn nhất.

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ III, chương 8, phẩm Lớn, phần Các cấu uế [lược], VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.553)

Lời bàn:

Cấu uế tức các phiền não nói chung là nhân tố chính làm trở ngại sự thăng hoa tâm trong lộ trình tu tập. Tâm của chúng ta có vô vàn cấu uế, mỗi loại có một ảnh hưởng đến một khía cạnh khác nhau trong quá trình thanh lọc tâm. Chung quy cấu uế là dơ bẩn, làm trở ngại, chướng ngại thanh tịnh cần phải chuyển hóa, loại trừ.

Không tìm hiểu, nghiên tầm để nhận thức đúng đắn về giáo pháp là một chướng ngại. Giáo pháp giải thoát của Thế Tôn thật quý giá nhưng sự tôn kính giáo pháp phải được thể hiện nơi học tập, tìm ra con đường và thân chứng. Vì thế, Thánh điển sẽ không phát huy tác dụng, thậm chí bị mai một dần nếu chúng ta thỉnh về chỉ để… thờ.

Các phương diện khác của đời sống cũng vậy, từ nhà cửa cho đến thân thể sẽ bị biếng nhác, giải đãi làm cho cấu uế. Sự buông thả, phóng túng sẽ trở ngại việc phòng hộ, giữ gìn; giữ sáu căn không loạn động khi tiếp xúc với trần cảnh. Tâm ích kỷ, ganh tỵ cùng với những hành động xấu ác sẽ làm hoen ố nhân cách con người. Sự xan tham sẽ làm chùng tâm bố thí, những ý niệm tốt đẹp về san sẻ dễ dàng bị lòng tham che lấp, ngăn ngại. Và những điều xấu ác đang xảy ra trong hiện tại chắc chắn sẽ làm cấu bẩn sự tốt đẹp, tươi sáng ở tương lai.

Tuy nhiên, cấu uế lớn nhất và chi phối mạnh mẽ nhất đối với mọi lãnh vực hoạt động của con người đó là vô minh. Chính sự si ám, không sáng suốt, thiếu tuệ giác là cội nguồn của tham ái, chấp thủ và cấu uế. Mọi khổ đau của chúng sanh đều bắt nguồn từ vô minh. Vì thế, đoạn trừ vô minh để khai mở tuệ giác là trọng tâm của tu tập. Do vậy, chúng ta không lạ khi phương châm tu học của hàng Phật tử luôn là “Duy tuệ thị nghiệp”.

Phật Học

Lời Phật dạy về cách chọn bạn mà chơi

Một trong những dấu hiệu để xét đoán về nhân cách của ai đó là nhìn xem họ thân thiết với những hạng người nào. Bởi gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Đi trong mù sương lâu dần sẽ thấm ướt. Vì thế mỗi người cần biết chọn bạn mà chơi. Chơi với […]
34

Một trong những dấu hiệu để xét đoán về nhân cách của ai đó là nhìn xem họ thân thiết với những hạng người nào. Bởi gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Đi trong mù sương lâu dần sẽ thấm ướt. Vì thế mỗi người cần biết chọn bạn mà chơi.

Chơi với bạn hiền thì mình được thơm lây, trở nên thiện lành. Ngược lại, chơi với bạn ác thì lâu ngày mình cũng bị tập nhiễm theo thói xấu của họ.

“Một thời Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt-kỳ cùng với chúng Đại Tỳ-kheo 1250 người.

Bấy giờ, vào lúc thích hợp, Ðức Thế Tôn khoác y cầm bát vào thành khất thực. Lúc bấy giờ tại thành La-duyệt-kỳ có con trai của trưởng giả tên là Thiện Sinh, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành, đi đến khu vườn công cộng sau khi vừa tắm gội xong, cả mình còn ướt, hướng đến các phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới mà lạy khắp cả.

Phật lại bảo Thiện Sinh:

– Có bốn hạng người thân đáng thân vì thường đem lại lợi ích và che chở. Những gì là bốn? 1. Ngăn làm việc quấy. 2. Thương yêu. 3. Giúp đỡ. 4. Đồng sự. Đó là bốn hạng người thân đáng thân cận.

– Này Thiện Sinh, hạng ngăn quấy thì thường làm bốn việc đem lại nhiều lợi ích và hay che chở: 1. Thấy người làm ác thì hay ngăn cản. 2. Chỉ bày điều chánh trực. 3. Có lòng thương tưởng. 4. Chỉ đường sinh Thiên. Đó là bốn trường hợp ngăn cản việc quấy đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.

– Hạng thương yêu thì thường làm bốn việc: 1. Mừng khi mình được lợi. 2. Lo khi mình gặp hại. 3. Ngợi khen đức tốt mình. 4. Thấy mình nói ác thì tìm cách ngăn cản. Đó là bốn điều thương yêu đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.

– Hạng giúp đỡ có bốn việc. Những gì là bốn? Đó là: 1. Che chở mình khỏi buông lung. 2. Che chở mình khỏi hao tài vì buông lung. 3. Che chở mình khỏi sợ hãi. 4. Khuyên bảo mình trong chỗ vắng người.

– Hạng đồng sự thì thường làm bốn việc: 1. Không tiếc thân mạng với bạn. 2. Không tiếc của cải với bạn. 3. Cứu giúp bạn khỏi sợ hãi. 4. Khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.

Phải phát khởi thiện duyên, nguyện sửa mình để sống lành mới mong gặp được bạn tốt

Nói như vậy xong, Ðức Thế Tôn lại nói bài tụng:

Bạn ngăn ngừa điều quấy

Bạn từ mẫn thương yêu

Bạn làm lợi ích bạn

Bạn đồng sự với bạn.

Đó bốn hạng đáng thân

Người trí đáng thân cận

Thân hơn người thân khác

Như mẹ hiền thân con.

Muốn thân người đáng thân

Hãy thân bạn kiên cố

Người bạn đủ giới hạnh

Như lửa sáng soi người”.

(Kinh Trường A-hàm, kinh Thiện Sinh, số 16 [trích])

Phải có nhân duyên, quan trọng là phải thành tâm hướng thiện thì mới có thể gặp gỡ và kết duyên lành với bạn tốt lâu dài.

Theo tuệ giác của Thế Tôn, bốn hạng người nêu trên đáng để thân cận, vì họ thường đem lại lợi ích và hay che chở cho mình. Ai ngăn ta làm ác, người ấy thật dũng cảm, rất đáng thân cận. Ai biết sẻ chia, mừng khi ta được lợi và lo khi ta bị hại, người ấy thực sự yêu thương ta, rất đáng thân cận. Ai che chở cho ta khi lo sợ, khi buông lung, khi thất thế sa cơ, người ấy hết lòng giúp đỡ ta, rất đáng thân cận. Ai sống hết mình, không tiếc thân mạng và tiền của, không nề lao nhọc, lại còn khuyên bảo ta tế nhị, kín đáo và chân tình, người ấy thực sự đồng hành với ta, rất đáng thân cận.

Ở đời, tìm ra những hạng người có bốn đặc điểm kể trên để thân cận là rất khó. Phải có nhân duyên, quan trọng là phải thành tâm hướng thiện thì mới có thể gặp gỡ và kết duyên lành với bạn tốt lâu dài. Gặp được người tốt mà mình chỉ nhờ cậy và không sửa mình cho tốt thì duyên lành ấy cũng chóng tan. Thế nên, phải phát khởi thiện duyên, nguyện sửa mình để sống lành mới mong gặp được bạn tốt, để cùng nhau xây dựng một cộng nghiệp hạnh phúc, an vui.

Nghi Lễ

Lời Phật dạy về cúng tế và trai đàn chẩn tế

Tế đàn hay đại hội tế lễ ở xã hội Ấn Độ cổ đại là hình thức thiết lập đàn tràng, đem các phẩm vật hiến tế thần linh, cúng dường bố thí, nguyện cầu âm siêu dương thái. Các loại hình tế đàn (thiện hoặc ác) này diễn ra khá phổ biến trong thời […]
49

Tế đàn hay đại hội tế lễ ở xã hội Ấn Độ cổ đại là hình thức thiết lập đàn tràng, đem các phẩm vật hiến tế thần linh, cúng dường bố thí, nguyện cầu âm siêu dương thái. Các loại hình tế đàn (thiện hoặc ác) này diễn ra khá phổ biến trong thời đại Thế Tôn.

Bấy giờ Ngài đã bày tỏ quan điểm, loại hình tế lễ nào mà thực sự thanh tịnh, không giết hại sinh vật, mọi người đều hoan hỉ thì Ngài tán thán, chấp nhận và ngược lại thì không.

Các loại hình tế đàn diễn ra khá phổ biến trong thời đại Thế Tôn.

“Một thời, Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, cây Kỳ-đà thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Bà-la-môn tuổi trẻ tên là Ưu-ba-ca đến chỗ Đức Phật. Sau khi

chào hỏi xong, lui ngồi qua một bên, bạch Phật rằng:

Bạch Cù-đàm, các Bà-la-môn thường hay khen ngợi đại hội tế lễ. Còn Sa-môn Cù-đàm có khen ngợi đại hội tế lễ không?

Phật bảo Ưu-ba-ca:

Ta không khen ngợi một chiều. Hoặc có đại hội tế lễ Ta tán thán. Cũng có đại hội tế lễ Ta không tán thán.

Ưu-ba-ca bạch Phật:

Những đại hội tế lễ nào có thể được khen ngợi và những đại hội tế lễ nào không được khen ngợi?

Phật bảo Ưu-ba-ca:

Nếu có đại hội tế lễ nào mà cột trói cả bầy nghé, trâu đực, trâu cái, những con dê và những chúng sanh nhỏ bé khác, tất cả đều bị sát hại; hành hạ áp bức những kẻ nô tỳ, người làm công, đánh đập bằng roi vọt, làm cho sợ hãi, buồn khổ, khóc la, kêu gào, không hoan hỷ, không sướng, lao dịch khổ nhọc. Những đại hội tế lễ như vậy, Ta không khen ngợi, vì chúng gây nên tai nạn lớn.

Nếu những đại hội tế lễ mà không trói cột các súc vật, cho đến không khiến chúng sanh phải lao dịch khổ nhọc; những đại hội tế lễ như vậy được Ta khen ngợi tán thán, vì nó không mang lại tai nạn lớn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:

Đại hội như tế ngựa

Gây nên tai họa lớn

Các tế lễ như vậy

Đại tiên không khen ngợi.

Trói cột các chúng sanh

Sát hại côn trùng nhỏ

Chẳng phải lễ hội chánh

Đại tiên không tùy thuận.

Nếu không hại chúng sanh

Không gây các tai họa

Thì gọi lễ hội chánh

Đại tiên thuận tán thán.

Bố thí và cúng dường

Đúng pháp thiết đại tế

Người thí, tâm thanh tịnh

Phạm hạnh ruộng phước tốt.

Những đại hội như vậy

Gọi lễ hội La-hán

Hội này được quả lớn

Chư Thiên đều hoan hỷ.

Tự mình cung kính thỉnh

Tự tay ban phát cho

Mình người đều thanh tịnh

Cho này được quả lớn.

Kẻ trí cho như vậy

Tín tâm được giải thoát

Cõi đời vui, không tội

Người trí sanh nơi đó.

Phật nói kinh này xong, Bà-la-môn Ưu-ba-ca nghe những gì Đức Phật đã dạy, tùy hỷ hoan hỷ, làm lễ mà lui”.

(Kinh Tạp A-hàm, kinh số 89)

Phật tử chánh kiến cần lưu tâm rằng, phước báo được tạo ra trong các Phật sự này chủ yếu là nhờ sự phát tâm cúng dường và bố thí thanh tịnh của thí chủ.

Pháp thoại trên cho thấy, Thế Tôn khen ngợi các đại hội tế lễ thanh tịnh, lợi ích cho số đông. Người nào phát tâm cúng dường Sa-môn và Bà-la-môn, hiến tế quỷ-thần-linh (cúng chay, không tổn hại sinh vật), bố thí cho người nghèo… với tâm trong sạch và cung kính thì được phước vô lượng.

Khi Phật giáo Ấn Độ truyền sang Trung Quốc và các nước Đông Bắc Á nói chung, trong đó có Việt Nam, loại hình tế đàn thanh tịnh này được tiếp biến hình thành nên các Thí vô giá hội, Trai đàn chẩn tế… nguyện cầu âm siêu dương thái. Trong ý nghĩa này, tổ chức các pháp hội cúng dường bố thí, trai đàn thanh tịnh, âm dương lưỡng lợi là phù hợp với tinh thần lợi tha của Chánh pháp.

Có điều người Phật tử chánh kiến cần lưu tâm rằng, phước báo được tạo ra trong các Phật sự này chủ yếu là nhờ sự phát tâm cúng dường và bố thí thanh tịnh của thí chủ. Thế Tôn dạy “Cho này được quả lớn”, tức cốt tủy của vấn đề là nhờ bố thí sinh phước quả chứ không phải do sự cúng bái với lễ nghi phức tạp hay sự phò hộ của quỷ thần. Tin vào năng lực của tế lễ, dựa vào phò hộ của quỷ thần là rơi vào tà kiến, không đúng với Chánh pháp. Nên cúng/thí/cho/xả là hạnh tu căn bản của người Phật tử. Để cho hạnh lành này sinh quả phước lớn thì cần thực hành với trí tuệ, tâm thanh tịnh, hoan hỉ.

Phật Học

Lời Phật dạy: Khuyến hóa cha mẹ hướng thiện

Khuyến hóa cha mẹ hướng thiện, bỏ tà quy chánh không chỉ đem lại hạnh phúc an vui cho cha mẹ trong đời này mà cả những đời sau. Làm được điều này mới gọi là tận hiếu, chí hiếu, là “làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cho cha”. Một thời, Thế […]
36

Khuyến hóa cha mẹ hướng thiện, bỏ tà quy chánh không chỉ đem lại hạnh phúc an vui cho cha mẹ trong đời này mà cả những đời sau. Làm được điều này mới gọi là tận hiếu, chí hiếu, là “làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cho cha”.

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với cha mẹ theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với cha mẹ xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào bố thí; đối với cha mẹ theo ác tuệ, khuyến khích hướng dẫn, an trú vào trí tuệ. Như vậy là làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cha.

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 2, phẩm Tăng thăng bằng, phần Đất [trích], VNCPHVN ấn hành, tr.119

Trợ duyên để chuyển hóa lẫn nhau, cải tạo cộng nghiệp gia đình tốt đẹp hơn là điều cần làm của người con Phật hiếu thảo

Lời bàn:

Hầu hết chúng ta đều tâm niệm cha mẹ là Trời Phật, là đối tượng kính thờ, là bất khả xâm phạm. Nuôi dưỡng và hun đúc ý niệm này sâu vào tâm khảm là một tố chất quan trọng để tác thành nên tâm hiếu, hạnh hiếu. Song thực tế cho thấy vẫn còn nhiều bậc cha mẹ do nghiệp lực chi phối nên chưa thực sự gương mẫu và thể hiện hết trách nhiệm, vai trò phụ mẫu của mình, dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ cho con cái và cả gia đình.

Người đời thường phê phán con cái bất hiếu là nghịch tử nhưng cũng nghiêm khắc khi quy kết “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Hiện có không ít những người co phải gánh chịu chua chát với câu “ân nghĩa sanh thành”, oán trách và xa lánh cả song thân. Ở đây, chúng ta không trách cứ ai cả, vì đã là con người thì dù ở vai vị nào cũng có những hạn chế nhất định, không ai tránh khỏi lỗi lầm.

Người ta thường nói trong cuộc sống, không có hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc còn cha mẹ, và không có bất hạnh nào lớn hơn bất hạnh của kẻ mồ côi.

Cần bình tâm quán sát về bản thân, gia đình để nhận ra dòng vận hành của nghiệp lực, cộng nghiệp của cả gia đình. Nhờ quán chiếu sâu sắc vào cộng nghiệp, chúng ta sẽ thấy rõ ràng hơn về thực trạng gia đình hiện tại mà bớt đi những oán trách lẫn nhau và quan trọng hơn là mở ra một hướng mới để chuyển hóa, khắc phục. Ngay đây, việc thực thi hạnh hiếu được nâng tầm cao hơn là khuyến hóa cha mẹ bỏ tà quy chánh.

Con hư cũng là con, cha mẹ dẫu có “sơ suất” gì thì cũng là cha mẹ, không ai thay đổi được cộng nghiệp này. Do vậy, trợ duyên để chuyển hóa lẫn nhau, cải tạo cộng nghiệp gia đình tốt đẹp hơn là điều cần làm của người con Phật hiếu thảo. Với con người, mọi lỗi lầm đều từ vô minh mà ra, từ tham ái mà hình thành, từ sân si mà dấy khởi. Thay vì oán trách, chúng ta hãy vận dụng tín (niềm tin), giới (làm lành, tránh ác), thí (buông xả) và tuệ (hiểu biết) vùng với tình thương, kính trọng để khuyến hóa cha mẹ hướng về Tam bảo.

Không ai nỡ nhìn người thân của mình đi vào cõi ác. Do vậy, khuyến hóa cha mẹ hướng thiện, bỏ tà quy chánh không chỉ đem lại hạnh phúc an vui cho cha mẹ trong đời này mà cả những đời sau. Làm được điều này mới gọi là tận hiếu, chí hiếu, là “làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cho cha”.

Phật Học

Lời Phật dạy về ngày tốt

Theo tuệ giác Thế Tôn, ngày nào chúng ta có những phẩm chất tốt đẹp như suy nghĩ điều thiện, nói lời nói thiện và làm những việc thiện thì ngày đó chính là ngày tốt. “Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: Các loài hữu tình […]
52

Theo tuệ giác Thế Tôn, ngày nào chúng ta có những phẩm chất tốt đẹp như suy nghĩ điều thiện, nói lời nói thiện và làm những việc thiện thì ngày đó chính là ngày tốt.

“Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:

Các loài hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi sáng tốt đẹp.

Các loài hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi trưa tốt đẹp.

Các loài hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi chiều tốt đẹp.

Này các Tỷ kheo:

Vầng sao lành, điều lành

Rạng đông lành, dậy lành

Sát-na lành, thời lành

Cúng dường bậc Phạm hạnh

Thân nghiệp chánh, lời chánh

Ý nghiệp chánh, nguyện chánh

Làm các điều chơn chánh

Ðược lợi ích chơn chánh

Thì được lợi, an lạc

Lớn mạnh trong Phật giáo

Hãy không bệnh, an lạc

Cùng tất cả bà con”.

(ÐTKVN, Kinh Tăng Chi Bộ I, chương 3, phẩm Cát tường, phần Buổi sáng tốt đẹp, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.540)

Lời bàn:

Trong tâm thức người Á Ðông nói chung và trong đó có không ít những Phật tử sơ cơ đều tín niệm về ngày giờ tốt xấu, cát hung, nhất là trong việc xuất hành, khai trương đầu năm mới.

Vì thế những liên hệ về tuổi tác, ngày giờ tốt xấu để khởi sự công việc làm ăn hay bất cứ việc hệ trọng nào, đối với họ là một trong những mối quan tâm lớn, được ưu tiên hàng đầu.

Chuyện có ngày tốt đích thực hay không đến nay vẫn là cảm nghiệm riêng của mỗi người. Thực sự thì không có ngày nào tốt cho tất cả mọi người, bởi có thể có ngày tốt đối với người này nhưng ngày ấy lại là ngày xấu đối với người kia. Chuyện hai người bán áo mưa và bán quạt ở cạnh nhau nhận xét về ngày tốt xấu là một điển hình. Vì ngày mưa sẽ tốt đối với người bán áo mưa nhưng không tốt với người bán quạt và ngược lại.

Theo tuệ giác Thế Tôn, ngày nào chúng ta có những phẩm chất tốt đẹp như suy nghĩ điều thiện, nói lời nói thiện và làm những việc thiện thì ngày đó chính là ngày tốt. Và như thế, ngày tốt phải do chúng ta tạo ra, làm nên chứ không phải do tạo hóa hay bất cứ sự vận hành nào tác thành. Vậy nên, thay vì tìm cầu chọn lựa ngày tốt từ bên ngoài, người con Phật chủ động tạo ngày tốt cho chính mình và mọi người bằng cách tịnh hóa ba nghiệp.

Trong một ngày, nếu từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều và từ chiều đến tối mà ta không làm bất cứ điều gì sai trái, xấu ác đồng thời còn làm được nhiều điều tốt đẹp, lợi ích thì chắc chắn đó là một ngày tràn ngập hạnh phúc, an vui. Thì ra, ngày tốt vốn có hàng ngày và không cần nhờ cậy bất kỳ ai coi ngày, ta vẫn có được ngày tốt lành cho mình, nếu biết tu dưỡng và chuyển hóa thân tâm.

Phật Học

Lời Phật dạy về hai hạng người không biết chán đủ

Quan sát cuộc sống, chúng ta dễ dàng thấy đời người mong manh, nay còn mai mất, vô thường nhanh chóng chẳng chừa ai. Không ít người vội ra đi mà không gieo trồng được chút phước nào, hoặc mang theo bao ý niệm tốt đẹp mong muốn sẻ chia mà chưa làm kịp. Rốt […]
24

Quan sát cuộc sống, chúng ta dễ dàng thấy đời người mong manh, nay còn mai mất, vô thường nhanh chóng chẳng chừa ai. Không ít người vội ra đi mà không gieo trồng được chút phước nào, hoặc mang theo bao ý niệm tốt đẹp mong muốn sẻ chia mà chưa làm kịp.

Rốt cuộc tài sản do mình làm ra tứ tán, trong khi hành trang phước báo lại rỗng không. Có người tỉnh sáng hơn, thấy rõ vô thường nên lập hạnh sẻ chia, dù không phải là giàu có, dư dật. Tùy duyên chia sẻ một phần những gì mình có được luôn mang lại an vui cho người thân và cho mọi người. Ngoài ra, hạnh hoan hỷ bố thí cũng là cách vun bồi cho hành trang phước báo đủ đầy ở trời, người của những kiếp lai sinh.

Thế Tôn đã chỉ rõ hai hạng người không biết chán đủ: Hạng người được tài vật mà che giấu và hạng người được tài vật mà phân phát.

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Đời có hai người không biết chán đủ mà bị mạng chung. Thế nào là hai người? Nghĩa là người được tài vật hằng cất giấu và người được vật mà thích cho người. Đó là hai người không biết chán đủ mà bị mạng chung.

Bấy giờ có Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:

– Thế Tôn! Chúng con không hiểu nghĩa chỉ nói sơ lược này. Thế nào là được vật mà cất giấu? Thế nào là được vật mà cho người? Cúi mong Thế Tôn diễn rộng nghĩa này.

Thế Tôn dạy:

– Hãy lắng nghe, lắng nghe và khéo suy nghĩ! Ta sẽ vì các Thầy phân biệt nghĩa này.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn.

Bấy giờ Phật dạy các Tỳ-kheo:

– Ở đây có người tộc tánh, học các kỹ thuật, hoặc tập làm ruộng, hoặc tập thư sớ, hoặc tập kế toán, hoặc tập thiên văn, hoặc tập địa lý, hoặc tập bói tướng, hoặc tập đi sứ phương xa, hoặc làm vương tá, chẳng tránh lạnh nóng, đói rét, cần khổ để tự mưu sống. Người ấy bỏ ra công sức này mà được tài vật, người ấy không dám ăn xài, cũng không cho vợ con, cũng chẳng cho nô tỳ, những người thân thuộc, cũng đều chẳng cho. Tài vật của người ấy hoặc bị vua cướp đoạt, hoặc bị giặc giã, hoặc lửa cháy, nước cuốn, phân tán chỗ khác, chẳng được lợi ích, hoặc ngay trong nhà có người phân tán tài vật này chẳng giữ mãi được. Đó là, này Tỳ-kheo, người được tài vật mà che giấu.

Còn, thế nào là được tài vật mà phân phát? Có người có tộc tánh, học các kỹ thuật, hoặc tập làm vườn, hoặc tập thư sớ, hoặc tập kế toán, hoặc tập thiên văn, địa lý, hoặc tập bói tướng, hoặc học làm sứ phương xa, hoặc làm vương tá, chẳng tránh lạnh nóng, đói rét, cần khổ mà tự mưu sống. Người ấy ra công sức này mà thu hoạch tài vật, họ ban phát cho chúng sanh, cấp cho cha mẹ, nô tỳ, vợ con, cũng cấp rộng đến Sa-môn, Bà-la-môn, tạo các công đức, trồng phước cõi trời. Đó là, này Tỳ-kheo, được vật mà bố thí. Đó là, này Tỳ-kheo, hai người không biết chán đủ. Như người trước, được vật mà cất chứa, các Thầy hãy nhớ xa lìa. Người thứ hai được vật mà bố thí rộng rãi, các Thầy nên học nghiệp này. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm Tàm quý,VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.260)

Người đệ tử Phật luôn tùy duyên tu hạnh thí, một trong những hạnh lành căn bản (tín, văn, giới, thí, tuệ) để đời này và đời sau luôn hạnh phúc, an vui.

Rõ ràng, nếu “được tài vật mà che giấu, không biết chán đủ” thì mất phước. Mình và người thân không được hưởng thành quả lao động mà đáng ra họ được hưởng. Không chỉ có thế, sự cất chứa tài vật khiến tâm tham ái nặng nề thêm. Khi ra đi, tài vật cũng theo về nhà khác. Ngược lại, nếu “được tài vật mà phân phát, không biết chán đủ” thì được phước. Hiện đời an vui và những đời sau cũng được an vui.

Thế Tôn đã chỉ rõ hai hạng người không biết chán đủ: Hạng người được tài vật mà che giấu và hạng người được tài vật mà phân phát. Ngài dạy, nên xa lìa hạng người trước và nên học tập hạnh bố thí rộng rãi của hạng người sau. Thế nên, người đệ tử Phật luôn tùy duyên tu hạnh thí, một trong những hạnh lành căn bản (tín, văn, giới, thí, tuệ) để đời này và đời sau luôn hạnh phúc, an vui.

Phật Học

Thực hành lời Phật dạy là có chân hạnh phúc

Thông thường chúng ta ai cũng mong có hạnh phúc. Vậy hạnh phúc là gì? Hạnh phúc là những điều vui thích, những điều an lạc. Nếu không có an lạc, vui thích thì dù ở đâu cũng cảm thấy thiếu hạnh phúc. Thế gian thường nghĩ rằng: Có tiền, có chức vị quyền cao, […]
33

Thông thường chúng ta ai cũng mong có hạnh phúc. Vậy hạnh phúc là gì? Hạnh phúc là những điều vui thích, những điều an lạc. Nếu không có an lạc, vui thích thì dù ở đâu cũng cảm thấy thiếu hạnh phúc.

Thế gian thường nghĩ rằng: Có tiền, có chức vị quyền cao, nói người ta nghe, đe người ta sợ như thế là hạnh phúc. Thiếu những tính đó coi như không có hạnh phúc. Hạnh phúc đó là hạnh phúc của thế gian, nó cũng chỉ là tạm bợ tương đối nhỏ nhoi nhất thời mà thôi, không những thế nó còn gây ra biết bao nỗi khổ đau cho con người, gia đình và xã hội.

Thời đại ngày nay nền khoa học kỹ thuật phát triển quá nhanh như vũ bão đạt tới đỉnh cao chưa từng thấy, đưa đời sống con người lên tầm cao mới. Tuy nhiên nó để lại những hệ lụy cũng không nhỏ. Đó là: Hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, thiên tai dịch họa, chiến tranh đao binh, nạn phân biệt chủng tộc tôn giáo, phân biệt giàu nghèo, nạn thất nghiệp đói kém, tệ nạn mê tín dị đoan. Đặc biệt là đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng, các tệ nạn xã hội ngày một gia tăng, bao cảnh bi thương xảy ra ngay trong gia đình và xã hội như: con giết cha, vợ giết chồng, chồng giết vợ, cha mẹ sát hại con cái, anh em tàn sát lẫn nhau chỉ vì lòng tham không được thỏa mãn. Con cháu bất hiếu với ông bà tổ tiên, cha mẹ; tham lam, trộm cắp, tà dâm, dối dá, lừa gạt, rượu chè, cờ bạc, bạo hành gia đình, bạo lực học đường, xâm hại tình dục, dâm ô trẻ em, tham ô tài sản Nhà nước hàng hàng tấn ma túy v.v..

Hạnh phúc là những điều vui thích, những điều an lạc. Nếu không có an lạc, vui thích thì dù ở đâu cũng cảm thấy thiếu hạnh phúc.

Đơn cử một số vụ việc xảy ra như tại Vĩnh Phúc người con trai cả đòi mẹ mỗi ngày phải trả 50.000 đồng công nuôi mẹ, trước đó, chỉ vì mẹ chia phần đất hơn cho người em trai út. Lại nữa ở An Lão, Hải Phòng cô chủ nhà nghỉ bị sát hại bởi sát nhân là kẻ ngáo đá nghiện game bắn cá không có tiền ăn chơi. Hay vụ việc Lưu Bá Luyện 17 tuổi sát hại 3 người trong 1 gia đình tại tiệm vàng Bích Ngọc ở Bắc Giang. Vụ thảm sát 6 người ở Bình Dương kẻ sát nhân là Nguyễn Hải Dương, thêm vào đó là một số phim ảnh, truyện, báo mạng Internet, đồ chơi trẻ em, thông tin phần nhiều là có tính kích dục và bạo lực, rất nhiều hệ lụy xảy ra hàng ngày mà thông tin đại chúng đưa tin không hết được. Trong khi đó công tác giáo dục của xã hội hiện nay lại thiên về tính toán vật chất, nghiêng về lợi ích cá nhân chạy theo thành tích và kinh tế thị trường. Do vậy mà xem nhẹ giáo dục nhân cách, luân lý đạo đức tâm linh. Phải chăng nguyên nhân do đâu? Xin thưa không phải đâu khác, chính là con người, xuất phát từ tâm con người.

Ý dẫn đầu các pháp

Ý làm chủ ý tạo

Nếu với ý ô nhiễm

Nói lên hay hành động

Khổ não bước theo sau

Như xe chân vật kéo.

(Kinh Pháp Cú số 1)

Xét đến cội nguồn thì con người và tất cả chúng sinh đồng tính thanh tịnh, tức đồng Phật tính. Nhưng vì sống trong thế giới ô trược này khi căn xúc cảnh chân tâm bị biến dịch thành thức, thức phân biệt các pháp thành ra ô nhiễm mà sinh tham, sân, si, đánh mất chất liệu thanh tịnh của chính mình, tạo nhiều điều xấu ác làm khổ mình, khổ người, khổ cho gia đình và xã hội. Chính vì vậy, muốn hết khổ đau để có chân hạnh phúc chúng ta phải vâng làm theo lời Phật dạy.

Đạo Phật lấy con người làm trung điểm, làm trung tâm giáo dục nhằm mục đích chuyển hóa con người từ mê lầm đến giác ngộ.

Thực hành lời Phật dạy là có chân hạnh phúc

Bổn phận tự thân phải giữ 5 giới:

– 5 giới gồm (Không sát, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu). Đây là nền tảng luân lý đạo đức căn bản

của 1 con người được Đức Phật dạy trong kinh Thiện Sinh (kinh Lễ 6 phương).

Này em Thiện! Cơ đồ muốn lập Xa bốn điều: Trộm cắp, sát sinh. Gian dâm, nói dối làm thinh

Bốn điều nữa cũng liệu mình tránh xa. Chớ gần gũi nữa mà bị tủi

Sợ, giận, cùng muốn với ngu si Còn sáu việc phải kiêng dè

Đắm say chè rượu ham mê bạc bài Cùng rông rỡ chơi bời hát xướng Bạn ác cùng lười biếng là nguy Những điều ấy kịp bỏ đi

Việc hay phải giữ nghiệp kia mới thành Em xem xét cho rành mọi nhẽ

Mới phải là phép lễ sáu phương… Đông là cha mẹ rõ ràng

Nam là thầy bạn, Tây phương vợ chồng Phương Bắc chính là dòng thân thích Phương hạ người ở ích cho ta

Thầy tu phương thượng đó mà

Thiện Sinh em nhớ cho ra kẻo nhầm.

(Chương 5 – “Luân lý của Phật Thích Ca dạy”; Gia đình giáo dục – Sa Môn Trí Hải biên soạn)

Đạo Phật không xa rời cuộc sống, không tách khỏi cuộc đời “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”.

Bổn phận mỗi thành viên trong gia đình

Con người thật sự hạnh phúc là con người biết hoàn thiện nhân cách, tu tâm dưỡng tính, trau dồi đức hạnh để thân tâm an lạc, thanh tịnh, vui sống hiện tại và tiến lên con đường giải thoát trong tương lai. Mỗi hạng người trong gia đình từ ông bà, cha mẹ, con cái đến những người làm công, kẻ làm mướn cho mình đều phải có trách nhiệm đối với họ, và nếu mỗi người ý thức tốt bổn phận của mình thì sẽ thiết thực đem lại hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội.

Là con phải hiếu kính với cha mẹ, tùy theo mùa nóng lạnh mà lo chuyện ăn uống cho phù hợp, lo sắp xếp công việc trong ngày, những vật dụng cần thiết nhất là khi tối lửa tắt đèn, thay thế cha mẹ gánh vác công việc nặng nhọc trong gia đình để cha mẹ thảnh thơi vui hưởng tuổi già, luôn luôn tâm niệm báo đáp ơn sinh dưỡng dục của cha mẹ, phải hết lòng săn sóc khi cha mẹ đau ốm, ân cần hầu hạ, thuốc thang.

Đối với con cái, phải biết dạy dỗ con cái đừng làm ác mà phải biết làm lành để con cái trở nên người đức hạnh, khuyên răn con cái sống gần thiện hữu và người trí thức để học hỏi nhiều điều tốt, nhắc nhở con cái cần mẫn học hành để trở thành người hữu ích, phải chăm lo việc gia đình cho con cái và cho phép con cái tham gia bàn tính chuyện gia đình để góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình chung.

Vợ đối với chồng phải kính yêu, hòa thuận, cư xử lịch sự nhã nhặn, khi chồng đi vắng, phải lo việc nhà và phải hết mực chung thủy với chồng, phải giữ gìn tiết hạnh không được ngoại tình, có của ngon vật lạ không được dùng riêng, khi chồng nóng giận thì không được cãi vã làm mất hòa thuận, đợi khi chồng bình tĩnh lại rồi mới dùng lời lẽ khuyên bảo, khi chồng khuyên giải đúng thì phải vâng theo, phải quán xuyến mọi việc nhà cửa, xem tài sản trong gia đình là của chung.

Chồng đối với vợ phải biết hỏi thăm lịch sự khi vợ đi về, nên dễ dãi ăn uống để khỏi phiền lòng vợ nấu nướng cực nhọc, phải mua sắm áo quần nữ trang đầy đủ cho vợ, không được sinh tâm tà vạy, phải trung thành với vợ không được ngoại tình.

Giáo lý của Đức Phật rất thực tiễn, được xây dựng trên nền tảng của con người đó là định luật nhân quả, thuyết nghiệp báo, định lý duyên khởi nhằm thức tỉnh con người và chúng sinh, giải quyết các mâu thuẫn xung đột giữa cá nhân, gia đình và xã hội.

Đối với bà con thân thích, thì phải hết lòng khuyên can nhắc nhở khi họ làm điều bất chính, giúp đỡ khi gặp tai ương, bệnh tật, không nên nói những chuyện kín đáo của họ, thường hay lui tới viếng thăm lẫn nhau, đừng vì bất đồng ý kiến mà cố chấp giận hờn nhau, phải biết nâng đỡ nhau lúc ngặt nghèo cơ nhỡ.

Học trò đối với thầy, phải kính mến như cha mẹ, vâng lời dạy bảo, giúp đỡ thầy trong cơn hoạn nạn, siêng năng học tập để thầy vui lòng, khi thôi học cũng phải năng lui tới thăm viếng để tỏ lòng cảm mến công ơn dạy bảo của thầy.

Trái lại, Thầy phải cần mẫn dạy dỗ trò, làm cho học trò phải tiến bộ cả kiến thức lẫn đức hạnh, phải lý giải cặn kẽ những điều khó hiểu để học trò được hiểu, phải có lòng rộng rãi, mong muốn học trò giỏi giang tiến bộ hơn mình.

Anh em một nhà như chân tay, như môi với răng, cho nên ta phải biết sống sao anh cho ra anh, em cho ra em, kính trên nhường dưới, hòa thuận thương yêu đùm bọc chở che, để cha mẹ hài lòng, phải dìu dắt nhau cuộc sống theo tinh thần chị ngã em nâng, phải tự nhắc nhở nhau thực hiện đúng tâm nguyện chân chính của cha mẹ.

Chủ nhà cần phải quan tâm đến sức khỏe và những phương tiện sống của người giúp việc để cho họ vui vẻ làm lụng. Khi họ bệnh phải lo thuốc thang để họ chóng lành bệnh. Nếu họ có phạm lỗi thì phải xem xét cho cẩn thận chớ có mắng oan, dùng lời thanh nhã để chỉ bày giúp họ chừa bỏ, không nên tước đoạt tài sản mà họ tiết kiệm dành dụm được, biết thưởng công và khuyến khích việc tốt.

Trái lại người giúp việc phải lo thức dậy trước không đợi chủ gọi, phải biết phân thời khóa công việc để làm, không đợi sai bảo, làm việc cẩn thận, giữ gìn tài sản của chủ không được làm thiếu hụt hư hao, phải kính trọng thương mến chủ nhà, đi thưa về trình tỏ ra thân mật, không được trì trích nói xấu chủ nhà với người ngoài.

Muốn có hạnh phúc phải thực hành theo lời Phật dạy: Đối với tự thân: Phải tự giác và thành tựu được 5 điều không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu nghiện ngập chích hút ma túy.

Kết luận

Đạo Phật lấy con người làm trung điểm, làm trung tâm giáo dục nhằm mục đích chuyển hóa con người từ mê lầm đến giác ngộ. Đạo Phật không xa rời cuộc sống, không tách khỏi cuộc đời “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”. Giáo lý của Đức Phật rất thực tiễn, được xây dựng trên nền tảng của con người đó là định luật nhân quả, thuyết nghiệp báo, định lý duyên khởi nhằm thức tỉnh con người và chúng sinh, giải quyết các mâu thuẫn xung đột giữa cá nhân, gia đình và xã hội.

Muốn có hạnh phúc phải thực hành theo lời Phật dạy:

Đối với tự thân: Phải tự giác và thành tựu được 5 điều không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu nghiện ngập chích hút ma túy.

Thứ hai là phải giữ trọn bổn phận đối với tổ tiên ông bà cha mẹ, con cái, vợ chồng, họ hàng quyến thuộc, đạo nghĩa thầy trò, tình huynh đệ thủ túc, chủ nhà với người giúp việc. Đây là mối quan hệ 2 chiều không thể thiếu để xây dựng một gia đình hạnh phúc an lạc góp phần xây dựng một xã hội, một đất nước và một thế giới cực lạc miên trường.

Tài liệu tham khảo: 

– Phật học phổ thông- Quyển 1 – Thích Thiện Hoa – Nxb. Đông Phương, 2011.

– Phật học tinh yếu – Hòa thượng Thích Thiền Tâm – Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1999.

– Gia đình giáo dục – Sa Môn Trí Hải – Nxb. Tôn giáo, 2015.

Phật Học

Phật dạy thế nào là một người con con gái đẹp

Khi Đức Phật còn tại thế, có người dòng Bà La Môn sinh được một đứa con gái xinh đẹp không ai sánh bằng. Ngày nọ ông treo một tấm biển ngoài cửa thách đố những ai chỉ ra được bất cứ điểm nào xấu trên người con gái ông sẽ được thưởng vàng. Đã […]
33

Khi Đức Phật còn tại thế, có người dòng Bà La Môn sinh được một đứa con gái xinh đẹp không ai sánh bằng.

Ngày nọ ông treo một tấm biển ngoài cửa thách đố những ai chỉ ra được bất cứ điểm nào xấu trên người con gái ông sẽ được thưởng vàng. Đã trải qua 90 ngày nhưng không ai dám đến thách đố. Một hôm ông đưa người con gái này đến chỗ Phật, thấy thế Phật quở ông không nên đem cô gái này đến đây, cô xấu quá không có chỗ nào là đẹp cả. Nghe thế đức A Nan bạch Phật:

– “Bạch Thế Tôn! Cô gái này đẹp thật mà sao Ngài lại chê xấu?”.

Đức Phật dạy:

– “Mắt không mê đắm nơi sắc dục mới gọi là mắt tốt, tai, mũi, lưỡi cũng thế. Thân không tham đắm nơi lụa là mịn láng thì mới gọi là thân tốt. Tay không lấy của cải không thuộc về mình thì mới gọi là tay tốt. Bây giờ đứa con gái này mắt mê đắm sắc dục, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, thân ưa những thứ lụa là mịn láng, tay thích trộm cắp. Một người như thế thì không có điểm gì tốt đẹp cả”.

Nhà Phật luôn không xem trọng đối với cái đẹp hình thể bên ngoài, mà nhà Phật xem trọng sự đẹp đẽ, thánh thiện trong nội tâm của mỗi con người, đây mới thật là vẻ đẹp thật sự.

Thời gian trôi qua, đến một buổi nọ có một người lại đem con gái xinh đẹp tuyệt trần đến gặp Phật, xin Phật cho ý kiến. Phật hỏi:

–  “Ngươi cho là người con gái này là xinh đẹp sao?’.

Người nọ đáp:

– “Bạch đức Thế Tôn! Con nhìn đứa con gái này tổng thể từ đầu đến chân có chổ nào xấu đâu?”.

Phật dạy:

– “Sai lầm thay mắt thịt, ta thấy từ đầu đến chân không có chỗ nào đẹp đẽ cả. Ngươi xem, trên đầu có tóc, tóc chính là lông, mà đuôi trâu đuôi ngựa cũng giống như thế. Dưới tóc là sọ, sọ được tạo bằng xương, nó có khác gì đầu trâu đầu heo nơi lò mổ đâu chứ. Trong đầu có não, não giống như bùn, mùi hôi xốc vào mũi, nếu vứt nó xuống đất thì không ai dám giẫm lên. Mắt chính là ao nước, nếu tách gèng ra thì nó chính là một chất nhầy. Còn trong mũi thì có cứt mũi, trong miệng thì có nước miếng. Ruột non, ruột già, bàng quang đều chỉ chứa đựng những thứ ô uế. Hai tay, hai chân được nối với nhau bằng các khớp xương, các mạch máu, da…đều nhờ hơi nóng để cử động, nó thật chẳng khác gì người gỗ đều nhờ máy móc tác động lên, sau khi hết tác động rồi tháo rời các khớp ra, đầu chân bày khắp, con người cũng như thế có gì đáng khen đâu”.

Chúng ta từ trước đến nay vẫn luôn bị đánh lừa bởi những sắc tướng xinh đẹp bên ngoài, mà không biết rằng những sắc tướng này đều là giả, chẳng phải thật. Một người con gái xinh đẹp một khi lớp da trên mặt bị lật ra, thì còn lại cái gì, chẳng phải chỉ là một đống bầy nhầy máu mũ thịt xương trộn lẫn đó sao, như vậy có còn đẹp nữa hay không? Cho nên, nhà Phật luôn không xem trọng đối với cái đẹp hình thể bên ngoài, mà nhà Phật xem trọng sự đẹp đẽ, thánh thiện trong nội tâm của mỗi con người, đây mới thật là vẻ đẹp thật sự.

Cho nên, nếu chúng ta muốn mình trở nên xinh đẹp thật sự thì cần phải tu tâm, tu tâm thanh tịnh, tu tâm từ bi, tu tâm bình đẳng, tu tâm chân thành. Được như vậy thì thân thể, tướng mạo của ta nhất định sẽ đẹp đẽ và trang nghiêm giống như Phật, Bồ Tát vậy.

Theo PhatGiao.Org.Vn

Phật Học

Lời Phật dạy quý giá dành cho người phụ nữ

Một người phụ nữ biết tích cực trau dồi kiến thức, đạo đức sẽ trở thành người đẹp cả vẻ bề ngoài lẫn nội tâm, nhận được sự yêu mến của mọi người. Theo lời Phật dạy, có 11 điều quý giá người phụ nữ nên thực hành để tô bồi vẻ đẹp đạo đức, […]
22

Một người phụ nữ biết tích cực trau dồi kiến thức, đạo đức sẽ trở thành người đẹp cả vẻ bề ngoài lẫn nội tâm, nhận được sự yêu mến của mọi người. Theo lời Phật dạy, có 11 điều quý giá người phụ nữ nên thực hành để tô bồi vẻ đẹp đạo đức, tạo giá trị bền vững cho bản thân.

Một số quan niệm cho rằng, nhan sắc là trang sức quý giá nhất của người phụ nữ. Nhưng nhan sắc sẽ tàn phai theo năm tháng, bị chôn vùi bởi dòng chảy thời gian. Vậy làm sao để khơi dậy vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ – món trang sức còn mãi với thời gian?

Theo lời Phật dạy, có 11 điều quý giá người phụ nữ nên thực hành để tô bồi vẻ đẹp đạo đức, tạo giá trị bền vững cho bản thân. Mời quý Phật tử cùng theo dõi chia sẻ của Đại đức Thích Trúc Thái Minh qua bài viết dưới đây, từ đó nâng tầm vẻ đẹp cho mình bằng những “trang sức” đẹp nhất.

Theo lời Phật dạy, có 11 điều quý giá người phụ nữ nên thực hành để tô bồi vẻ đẹp đạo đức, tạo giá trị bền vững cho bản thân.

Điều 1: Giữ vững tâm đạo nhiệt thành

Điều đầu tiên Đức Phật dạy cho người nữ là giữ vững tâm mình. Ví như trên con đường tu học gian nan vất vả, tâm mình luôn vững trụ, quyết không chùn bước thì chắc chắn sẽ gặt được quả ngọt. Đại đức Thích Trúc Thái Minh chia sẻ: “Thứ nhất người nữ nên tu dưỡng làm sao cho mình có tâm đạo nhiệt thành đối với Phật Pháp”.

Điều 2: Có tâm hổ thẹn, ghê sợ tội lỗi

Đại đức Thích Trúc Thái Minh giảng giải: “Người nữ nên sinh tâm hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi”. Bởi người có tâm ghê sợ tội lỗi mới biết hổ thẹn khi làm việc ác và không bị cái ác chi phối.

Điều 3: Không nuôi dưỡng tâm ác độc, sân hận, oán thù

Đại đức Thích Trúc Thái Minh chia sẻ: “Thứ ba là không nuôi dưỡng tâm ác độc, sân hận, oán thù. Người nữ thường nặng cái này lắm”.

Qua đó, người phụ nữ nên học cách loại bỏ những hạt giống sân hận, oán thù để có được hạnh phúc, an vui.

Một người phụ nữ biết tích cực trau dồi kiến thức, đạo đức sẽ trở thành người đẹp cả vẻ bề ngoài lẫn nội tâm, nhận được sự yêu mến của mọi người.

Một người phụ nữ biết tích cực trau dồi kiến thức, đạo đức sẽ trở thành người đẹp cả vẻ bề ngoài lẫn nội tâm, nhận được sự yêu mến của mọi người.

Điều 4: Không ghen tuông

Để đại chúng thấy rõ sự khổ của bệnh ghen tuông, Đại đức cũng giảng giải và đưa ra lời khuyên: “Phật dạy là người nữ phải bỏ dần tính ghen. Ai đã vào tâm ghen là khổ vô cùng. Ăn không được, ngủ không được, không làm cái gì yên được, đi đâu cũng quẩn quanh, chỉ nghĩ chuyện ghen tuông đó thôi. Nó bức bối, đau khổ vô cùng! Cho nên ta biết cái ghen là khổ, ta bỏ đi”.

Điều 5: Có lòng nhân hậu, bao dung

Lòng nhân hậu, sự bao dung cũng là một trong những loại trang sức tô điểm cho vẻ đẹp của người phụ nữ. Đại đức cho rằng: “Phật dạy không nên cãi vã mà nên có lòng rộng lượng”.

Điều 6: Ứng xử có văn hóa

Đại đức Thích Trúc Thái Minh đưa ra lời khuyên: “Người nữ nên có hành vi nhã nhặn, không nên thô bỉ quá. Chồng nói một câu, mình cũng cãi một câu, chồng xắn tay, mình cũng xắn tay lên”.

Qua đây chúng ta thấy, người phụ nữ không nên nóng vội trong giao tiếp mà có hành vi khiếm nhã. Người phụ nữ thông minh là người tinh tế trong giao tiếp và ứng xử hòa nhã trong cuộc sống. Điều đó sẽ giúp họ thể hiện được phẩm chất tốt và trở nên xinh đẹp dài lâu.

Người nữ cần phải giữ vững tâm mình.

Người nữ cần phải giữ vững tâm mình.

Điều 7: Tu tập các điều đức hạnh

Người xưa quan niệm, phụ nữ có tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh là người hoàn thiện về nhân cách và vẻ đẹp. Ngày nay, chuẩn mực về vẻ đẹp của người phụ nữ ít nhiều thay đổi. Tuy nhiên chữ “hạnh” vẫn luôn là thước đo thể hiện giá trị của người phụ nữ qua mọi thời đại. Hạnh là đức hạnh, đạo đức. Trong xã hội, đạo đức vẫn thường được coi trọng hơn cả.

Ở điều thứ bảy theo lời Phật dạy, Đại đức giảng giải: “Thứ bảy là tu tập các điều đức hạnh. Nghe nói đến những điều đức hạnh, mình phải tu tập cho mình thêm lên”.

Điều 8: Học hỏi nâng cao kiến thức

Đại đức giảng giải: “Thứ tám là phải biết học hỏi để nâng cao kiến thức. Người nữ, nhất là thời đại bây giờ, phát triển khoa học, chúng ta cũng nên học hỏi. Đừng cam phận người nữ chỉ là bếp núc, nội trợ, mà phải học cho mình nâng cao hiểu biết, trình độ lên, nâng cao kiến thức lên, để không tụt hậu. Mình tụt hậu thì nói chuyện với chồng cũng không được, nói chuyện với con cũng không được, cuối cùng mình trở thành bà già lạc hậu, không phù hợp với thời đại. Cho nên phải học hỏi để nâng cao kiến thức”.

Qua chia sẻ của Đại đức, chúng ta thấy, học tập, rèn luyện hàng ngày không chỉ giúp người phụ nữ làm mới bản thân mình, tăng thêm tự tin mà còn hỗ trợ người nữ trong giao tiếp với những người xung quanh.

Phật tử nữ phải biết học hỏi để nâng cao kiến thức.

Phật tử nữ phải biết học hỏi để nâng cao kiến thức.

Điều 9: Nhiệt tình trong công việc

Đại đức chia sẻ điều thứ chín người nữ cần nhớ, đó là luôn nhiệt tình, sốt sắng trong công việc. Điều này thì người phụ nữ hiện đại đang làm rất tốt, ngày càng khẳng định được bản thân, làm chủ công việc với tinh thần đầy nhiệt huyết.

Điều 10: Học cách giao tiếp thông minh

Điều thứ mười Đại đức Thích Trúc Thái Minh lý giải: “Luôn biết phòng hộ tâm, khôn khéo trong các ứng xử. Người nữ phải học ứng xử tinh tế, học ăn, học nói. Các cụ dạy: học gói, học mở, học cách ăn nói để làm sao nói cho vừa lòng chồng, vừa lòng cha mẹ, anh em, với bạn bè”.

Người phụ nữ nên cố gắng trau dồi kiến thức và nhân tâm để ứng xử khéo léo, giúp cuộc sống an vui, hạnh phúc.Trong cuộc sống hiện đại, việc học giao tiếp, cư xử khéo léo để cân bằng cuộc sống chính là bước đệm vững chắc giúp người phụ nữ tiến gần tới thành công. Chính vì thế, Đại đức mong mỏi sau sẽ khóa những khóa tu cho cha mẹ, vợ chồng để mọi người cùng được học hỏi.

Người nữ cần luôn nhiệt tình, sốt sắng trong công việc.

Người nữ cần luôn nhiệt tình, sốt sắng trong công việc.

Điều 11: Có trí tuệ hiểu biết

Đại đức khuyên phụ nữ nên tích cực trau dồi tri thức: “Người nữ đừng bao giờ cam phận mình là nữ, thấp kém; mà phải mở mang trí tuệ mình lên. Đi học Pháp cũng là mở mang trí tuệ, mình biết đạo lý, mình nói có khi chồng cũng chịu, cũng nghe. Chồng mà lấy cô vợ ngu si, đần độn, người ta cũng dễ xem thường. Lúc lấy thấy đẹp thì thích, nhưng về ở mà ngu quá, dốt quá, chồng cũng xem thường. Nói mãi không hiểu gì cả, người ta cũng chán. Đến lúc về sau người chồng lại thích một người vợ biết thông cảm, hiểu biết để làm bạn để chia sẻ”.

Một người phụ nữ hiểu biết sẽ có được sự nể phục từ chồng và những người xung quanh, có thể là người bạn tâm giao chia sẻ cùng chồng. Do đó Đại đức Thích Trúc Thái Minh khẳng định rằng, việc mở mang trí tuệ là rất cần thiết đối với người nữ.

Một người phụ nữ biết tích cực trau dồi kiến thức, đạo đức sẽ trở thành người đẹp cả vẻ bề ngoài lẫn nội tâm, nhận được sự yêu mến của mọi người. Mong rằng, bài viết mang lại những kiến thức bổ ích, trở thành tư lương trên bước đường tu học của Phật tử nữ nói riêng và phụ nữ nói chung, từ đó áp dụng vào cuộc sống để có thêm nhiều lợi lạc.

Uncategorized

Lời Phật dạy: Hãy nhớ tinh tấn, chớ có lười biếng

Tinh tấn là sự nỗ lực, siêng năng chuyên cần, cố gắng hết sức để tu học bằng tất cả nghị lực bản thân; một chi phần quan trọng của Bát chánh đạo. Chánh tinh tấn được khái quát là: Những điều xấu ác chưa sinh thì ngăn ngừa không cho phát sinh, những điều […]
184

Tinh tấn là sự nỗ lực, siêng năng chuyên cần, cố gắng hết sức để tu học bằng tất cả nghị lực bản thân; một chi phần quan trọng của Bát chánh đạo.

Chánh tinh tấn được khái quát là: Những điều xấu ác chưa sinh thì ngăn ngừa không cho phát sinh, những điều xấu ác đã sinh thì cố gắng loại trừ. Những điều thiện lành chưa sinh thì nỗ lực khiến cho phát sinh. Những điều thiện lành đã sinh thì vun bồi để càng tăng trưởng hơn nữa. Chuyên cần và tinh tấn loại bỏ ác pháp và làm tăng trưởng thiện pháp trong thân tâm là một trong những bước quan trọng để tiến đạo.

Đức Phật nhờ lập hạnh tinh tấn dũng mãnh nên mới thành tựu giác ngộ.

Ở đời, siêng năng là một trong những đức tính được xem là nền tảng của mọi thành công. “Cần cù bù khả năng” hay “siêng nhặt chặt bị” là những kinh nghiệm quý báu của tổ tiên chúng ta về chuyên cần, tinh tấn. Ngược lại, lười biếng thì chẳng những không thành công trong mọi việc mà còn là nguyên nhân của những hành vi bất thiện, không ít tội phạm cũng từ biếng nhác mà ra. Trong đường đạo cũng vậy, giải đãi là một trong những chướng ngại quan trọng. Học đạo và hiểu đạo tuy khó mà nhiều người làm được nhưng kiên trì giữ đạo, đấu tranh với tự thân để vượt lên các giới hạn của chính mình thì thật gian nan. Chính Thế Tôn nhờ lập hạnh tinh tấn dũng mãnh nên mới thành tựu giác ngộ.

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

Nếu có người lười biếng, trồng hạnh bất thiện, có sự mất mát đối với công việc. Nếu có người có thể không lười biếng, tinh tấn, người này tối diệu, có sự tăng ích ở các pháp lành.

Vì sao? Bồ-tát Di Lặc trải qua ba mươi kiếp, đáng lẽ làm Phật Chí Chân Đẳng Chánh Giác. Ta do sức tinh tấn, dũng mãnh, khiến Di Lặc ở sau. Hằng sa Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác thời quá khứ đều do dũng mãnh mà được thành Phật. Do phương tiện này nên biết lười biếng là khổ, làm các hạnh ác, có tổn hại cho việc làm. Nếu hay tinh tấn, tâm dũng mãnh mạnh, các công đức lành có tăng thêm. Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy nhớ tinh tấn, chớ có lười biếng. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm 21. Tam bảo, VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.343).

Phật dạy, lười biếng là khổ, làm các hạnh ác, có tổn hại…

Lời khuyên dạy của Thế Tôn “lười biếng là khổ, làm các hạnh ác, có tổn hại” và “nếu hay tinh tấn, tâm dũng mãnh mạnh, các công đức lành có tăng thêm” thật rõ ràng. Tuy vậy trong tu học để duy trì tinh tấn, chiến thắng sự giải đãi là vấn đề không đơn giản. Khi đối diện với những chướng ngại phiền não từ chính mình, thực hành tinh tấn trọn vẹn là một thách thức rất lớn.

Phật dạy sắc đẹp làm con người mê muội

Quá trình thể nghiệm giáo pháp giúp hành giả dễ dàng nhận ra tinh tấn, chuyên cần vốn không dễ thực hành. Nên phải lập hạnh, phát thệ bởi nếu không thì khó tránh sự “đầu voi đuôi chuột”, “nhất niên Phật hiện tiền, nhị niên Phật thăng thiên”. Thường thì lúc đầu ai cũng siêng năng, tinh tấn lắm nhưng càng lâu càng mỏi mệt và nguội lạnh dần. Thế Tôn đã từng dùng hình ảnh “cọ cây lấy lửa” để nói lên sự tu hành cần tinh tấn liên tục. Nếu gián đoạn, bị giải đãi và phóng dật chế ngự thì phải nỗ lực công phu lại từ đầu.

Để trợ duyên cho hạnh tinh tấn, nương tựa vào Tăng thân, nhờ đại chúng yểm trợ là một cách hay. Mùa an cư, hay tu học trong các trụ xứ mà chúng Tăng đông đảo, tập trung một chỗ tu học sẽ giúp cho hành giả trau dồi tinh tấn, tu học chuyên cần hơn.

Nhân Sinh

Lời Phật dạy: Tha thứ cho người cũng là cách bảo vệ mình

Tốt hay xấu cũng chỉ là giúp ta trưởng thành mà thôi. Tha thứ cho người làm tổn thương bạn cũng là cách bảo vệ chính mình. Trong cuộc đời này gặp được nhau là một cái duyên, nhưng để lỡ nhau, rời xa nhau thì lại là vô duyên. Mình từng gieo nhân nào […]
22

Tốt hay xấu cũng chỉ là giúp ta trưởng thành mà thôi. Tha thứ cho người làm tổn thương bạn cũng là cách bảo vệ chính mình.

Trong cuộc đời này gặp được nhau là một cái duyên, nhưng để lỡ nhau, rời xa nhau thì lại là vô duyên. Mình từng gieo nhân nào thì gặt về quả đó. Nợ người, nợ đời thì đều lo phải trả hết. Nhưng cuộc sống mà, lại có kẻ muốn gây tổn thương, ngáng trở cho bạn.

Những lúc như thế bạn cũng đừng oán trách người ta, oán trách ông trời không công bằng. Bởi vì không phải trời cao không công bằng, hay bất công với bạn mà đó là do nhân duyên quả báo của chính bạn. Nếu bạn chưa từng kết thiện duyên với người ai tì cũng đừng mong đối phương sẽ đối xử hết lòng, hết dạ vì mình.

Phật đã dạy, người sống trong thuận cảnh sẽ chẳng bao giờ thành người hoàn hảo (Ảnh minh họa)

Hãy nhớ rằng, cuộc đời luôn công bằng. Bạn làm việc thiện hay việc xấu cho người khác cũng chính là làm cho bạn. Nếu bạn nhận về điều xấu nhiều hơn có nghĩa là điều thiện bạn làm còn ít hơn điều xấu. Thế nên bạn đừng vội oán thán thay than trách vì bị người khác đối xử tệ bạc. Mà hãy học cách chuyển ác duyên thành thiện duyên.

Mọi chuyện xảy ra trong đời không phải là vô duyên. Dù ta làm việc xấu với người khác bao nhiêu đời thì đến một lúc nào đó quả báo sẽ hiển hiện trước mắt. Cũng như thế việc thiện ta làm trăm nghìn kiếp cũng chẳng mất đi, rồi một ngày ta sẽ nhận đủ. Gặp được thiện duyên, đó chính là quý nhân tới giúp đỡ chúng ta.

Còn nếu gặp phải ác duyên, thì cũng đừng oán trách hay gây thù chuốc oán thêm. Hãy học cách biến ác thành thiện, hóa giải mọi ân óa thù địch thì đó mới là người thông minh, sáng suốt nhìn xa trông rộng.

Người khác đối xử với bạn ra sao, đó chính là nhân quả của bạn. Còn cách bạn đối xử với người khác, đó chính là tu hành của bạn. Không lấy oán báo oán không phải là hèn nhát, mà là sự nhẫn nhịn, là cách bảo vệ chính mình.

Khi đối diện với kẻ tiểu nhân hãy học cách buông bỏ cho tâm trí thoải mái, không gây thêm thù oán bởi nó sẽ có hậu quả khôn lường và nếu có thể hãy tha thứ cho người từng làm tổn thương bạn. Trên đời này chẳng ai là hoàn hảo, chẳng ai không có lỗi lầm, chẳng ai có thể sống mà nắm chặt tay từ sáng đến tối được cả.

Ai cũng có thể vấp ngã, ai cũng có thể sai. Người này thích bạn, nhưng người kia lại ghét bạn. Phật đã dạy, người sống trong thuận cảnh sẽ chẳng bao giờ thành người hoàn hảo. Cuộc sống thuận buồm xuôi gió từ đầu đến cuối thì đã chẳng là cuộc đời. Thế nên nếu như ai đó gây lỗi cho ta thì cũng đừng nên có quá nóng nảy, hãy bình tĩnh để giải quyết mọi chuyện, tất cả rồi sẽ ổn thôi.

Tha thứ cho người làm tổn thương bạn cũng là cách bảo vệ mình (Ảnh minh họa)

Nếu thấy người ta gây lỗi cho mình, lập tức mình cũng trả đũa lại thì tự nhiên mọi chuyện sẽ trở nên căng thẳng, mâu thuẫn sẽ bị đẩy đi xa. Như vậy giữa 2 người sẽ có mối thâm thù không bao giờ hóa giải được. Trong lòng lúc nào cũng nặng trĩu âu tư, sự oán ghét thù hận, bản thân thấy khó chịu mệt mỏi. Liệu bạn có vui, có sống tốt được?

Những kẻ tiểu nhân gây chuyện có lỗi với ta nhưng thực chất là giúp chúng ta tu hành, giúp ta hiểu rõ chữ nhẫn. Nghịch cảnh không phải là bất hạnh mà nó còn tạo cho ta cơ hội nên hãy bình thản đón nhận. Tất cả những người mà cuộc đời đã sắp xếp cho chúng ta gặp ta đều phải cảm ơn dù là người tốt hay kẻ xấu. Bởi vì tốt hay xấu cũng chỉ là giúp ta trưởng thành mà thôi. Tha thứ cho người làm tổn thương bạn cũng là cách bảo vệ chính mình.

Phật Học

Lời Phật dạy cách đối mặt với kẻ tiểu nhân

Hãy tha thứ cho người làm tổn thương bạn, bởi đó cũng là một cách bảo vệ và buông tha cho chính bản thân mình. Học cách buông bỏ, không dằn vặt chính mình, có như vậy, cuộc đời mới có thể cát tường. Lời Phật dạy: cách đối mặt với kẻ tiểu nhân Trong […]
31

Hãy tha thứ cho người làm tổn thương bạn, bởi đó cũng là một cách bảo vệ và buông tha cho chính bản thân mình. Học cách buông bỏ, không dằn vặt chính mình, có như vậy, cuộc đời mới có thể cát tường.

Lời Phật dạy: cách đối mặt với kẻ tiểu nhân

Trong kinh Pháp Hoa đức Phật có dạy: “Chư pháp tùng duyên sanh, diệc phục tùng duyên diệt” nghĩa là: các pháp từ duyên mà được sanh ra, cũng tùy duyên mà bị hoại diệt. Dù là loài hữu tình hay vô tình đều không ngoài nguyên tắc ấy. Phật giáo rất chú trọng nhân duyên. Nhờ có duyên nên mới có thể gặp nhau, vì vô duyên nên mới bỏ lỡ nhau. Mình đã từng gieo nhân nào, thì sẽ thu về duyên đó, nợ người hay người nợ, báo ơn hay tổn thương, tất cả đều đã được số phận an bài, cũng là do chính chúng ta gây nên.

Có rất nhiều người thường than phiền rằng người bên cạnh không đối xử tốt với mình. Điều này chẳng thể đi trách người khác, không phải trời cao không công bằng, mà đó là do nhân duyên quả báo của chính bạn. Bởi bạn chưa từng kết thiện duyên với người khác, vậy thì đừng hy vọng xa vời rằng đối phương sẽ đối xử hết lòng vì mình. Phải nhớ kỹ rằng, nhân quả chính là điều công bằng nhất trên thế gian này. Những việc chúng ta làm cho người khác, cũng chính là làm vì bản thân, tốt hay xấu cuối cùng đều quy về thân mình. Người không kết thiện duyên, đừng nên oán trách ác duyên quá nhiều, nghiệp chướng quá nặng.

Đã là nhân quả báo ứng của bản thân, học cách chuyển ác duyên thành thiện duyên Trong kinh có nói: “Giả sử bách thiên kiếp sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời quả báo hoàn tự thọ”. Tức những việc ta đã làm dù trải qua trăm ngàn kiếp cũng không mất đi, chỉ chờ đủ nhân duyên, cái quả ta sẽ tự nhận lấy. Mọi chuyện xảy ra trên đời không phải là vô duyên vô cớ, dù ta kết ân kết oán với người khác từ bao nhiêu đời trước, một khi nhân duyên hội tụ đủ, quả báo cũng hiển hiện trước mắt. Gặp được thiện duyên, đó chính là quý nhân tới giúp đỡ chúng ta. Điều đó cho thấy chúng ta từng giúp người khác, gieo trồng những hạt mầm “thiện” nên hôm nay mới được hưởng phúc báo.

Còn nếu gặp phải ác duyên, nghiệt duyên khiến chúng ta chịu nhiều tổn thương, đừng chỉ than phiền, oán trách hay thậm chí là gây gổ. Những điều đó chỉ khiến ác duyên càng thêm sâu, kết thêm oán thù. Nếu như chúng ta bị người bên cạnh gây tổn thương, hãm hại, hãy học cách biến ác duyên thành thiện duyên, hóa giải ân oán, hóa địch thành bạn, đó mới là trí tuệ cao thượng.

Mọi sự nhân quả đã được an bài, hãy cứ làm việc tốt Ngạn ngữ có câu: “Đãn hành hảo sự, mạc vấn tiền trình”, nghĩa là hãy cứ làm việc tốt, chớ hỏi về tiền đồ sau này. Câu này không nói đến người nào làm việc tốt hay làm việc tốt trong điều kiện như thế nào. Nhưng ý muốn răn dạy rằng, trong mọi tình huống và hoàn cảnh, chúng ta đều nên làm người tốt. Điều này không liên quan gì đến giúp ai duy trì thống trị, mà là thể hiện chân tâm của con người. Nếu như ác duyên khó hóa giải, vậy thì cứ thuận theo nó đi. Người khác đối xử với bạn ra sao, đó chính là nhân quả của bạn. Còn cách bạn đối xử với người khác, đó chính là tu hành của bạn. Cho nên dù người khác có gây bao nhiêu đau khổ, tổn thương cho chúng ta, đừng bao giờ sinh ra ý niệm phải hoàn trả lại đối phương giống như thế. Đó không phải là hèn nhát, mà là cảnh giới của sự nhẫn nhịn.

Hãy tha thứ cho người làm tổn thương bạn…

Lời Phật dạy cách đối phó với kẻ tiểu nhân rằng, hãy tha thứ cho người làm tổn thương bạn, bởi đó cũng là một cách bảo vệ và buông tha cho chính bản thân mình. Đừng dây dưa cố chấp với bất cứ việc gì, học cách buông bỏ, không dằn vặt chính mình. Có như vậy, cuộc đời mới có thể cát tường. Nghịch cảnh cũng là một cơ hội vận mệnh mang đến Trên đời này, chẳng có ai là hoàn mỹ không chút sứt mẻ, chúng ta cũng chẳng thể được tất cả mọi người yêu quý. Có người thích, sẽ có người ghét; có người mến. Ai cũng đều mong cả đời sẽ trôi qua suôn sẻ, nhưng đó chẳng qua chỉ là một hy vọng xa vời mà thôi. Phật dạy, người sống trong thuận cảnh sẽ chẳng bao giờ thành Phật. Đời người nếu như luôn xuôi gió xuôi nước, không gặp phải bất kỳ gợn sóng lận đận nào, vậy thì không thể gọi là cuộc sống.

Cho dù gặp phải đau khổ, nhưng nếu có thể trải qua khổ nạn, tôi luyện được ý chí bền bỉ, đó mới chính là món quà quý báu mà cuộc sống ban tặng. Những kẻ tiểu nhân, kẻ tác tạo ra muôn trùng khó khăn nhưng thực chất là giúp chúng ta tu hành, cho nên chúng ta cần phải mang lòng cảm kích. Nghịch cảnh không phải là bất hạnh nên hãy bình thản đón nhận. Cảm ơn tất cả những người mà vận mệnh đã sắp xếp để ta được gặp, dù đó là người mang đến ánh sáng, hay người mang gió mưa cho ta. Họ đều là những món quà của vận mệnh. Ngay cả Đức Phật cũng cảm kích người em họ Đề-bà-đạt-đa đã vô số lần hãm hại, gây tổn thương cho Ngài trong quá trình Đức Phật tu hành. Chính nhờ những lần phá hoại đó mà Đức Phật có thể trở thành “Phật Thích Ca Mâu Ni” phúc tuệ viên mãn, trí cao vô thượng như hôm nay. Lời Phật dạy cách đối phó với kẻ tiểu nhân rằng, “nếu không nợ nhau, sao có thể gặp gỡ”. Có duyên thì sẽ ở lại, vô duyên sẽ đi mất. Khi đã gặp được nhau rồi, phải biết quý trọng lẫn nhau, đối xử tử tế, học cách biến nghịch duyên thành thiện duyên. Mọi việc ta làm đều không nằm ngoài nhân quả, bạn gieo nhân lành thì có quả ngọt và ngược lại.

Phật Học

8 cách sống theo lời dạy của Đức Phật mang lại hạnh phúc

Học và làm theo lời dạy của Đức Phật là phương pháp để bạn có một cuộc sống hạnh phúc, thân tâm an lạc mỗi ngày và đủ sức để vượt qua những trở ngại trong cuộc sống mà không vướng bận những phiền muộn trong tâm. Bắt đầu mọi thứ từ những điều nhỏ […]
14

Học và làm theo lời dạy của Đức Phật là phương pháp để bạn có một cuộc sống hạnh phúc, thân tâm an lạc mỗi ngày và đủ sức để vượt qua những trở ngại trong cuộc sống mà không vướng bận những phiền muộn trong tâm.

Bắt đầu mọi thứ từ những điều nhỏ nhặt

Một chiếc bình đầy được tạo nên từ nhiều giọt nước. Con người cũng vậy, người khôn ngoan sẽ là người biết tự hoàn thiện bản thân mình mỗi ngày.

Trong cuộc sống này, không có thành công nào trải đầy hoa hồng. Chẳng bao giờ tiền tài rớt xuống chỉ sau một giấc ngủ. May mắn chỉ là một yếu tố nhưng đời người thì chẳng ai gặp vận may mãi. Tất cả vốn dĩ đều là sự cố gắng từ những điều nhỏ nhặt, cộng thêm một chút kiên nhẫn và không đầu hàng trước thất bại. Chăm chỉ sẽ làm cho bình nước của bạn tràn đầy.

Hành động chính là suy nghĩ từ trong tâm

Bản chất của con người được phản ảnh từ những gì chúng ta suy nghĩ. Nếu chúng ta nghĩ xấu, nghĩ thất bại, chúng ta sẽ xấu và trở thành người thất bại. Nếu chúng ta nghĩ tốt đẹp thì hạnh phúc sẽ theo sau lưng ta.

Đức Phật từng nói: “Tâm là tất cả mọi thứ, là những gì bạn nghĩ rằng bạn sẽ trở thành”, “Tất cả những sai trái ta mắc phải đều phát sinh do tâm. Nếu tâm được chuyển hóa, có thể nào những sai trái ấy lại được lặp lại?”. Vì vậy, cứ thản nhiên và tập nghĩ về những điều tích cực, rồi bạn sẽ làm được thứ mà bản thân mong muốn. Suy nghĩ quyết định hành động, chỉ cần suy nghĩ, bạn sẽ biết cách giải quyết bất kỳ điều gì.

Học và làm theo lời dạy thâm thúy của Đức Phật là phương châm để bạn có một cuộc sống hạnh phúc, thân tâm an lạc mỗi ngày và đủ sức để vượt qua những trở ngại trong cuộc sống mà không vướng bận những phiền muộn trong tâm.

Học cách tha thứ

“Không có ngọn lửa nào cháy bỏng hơn niềm đam mê, không có sự đau đớn nào tuyệt vọng nỗi hận thù, không có cạm bẫy nào nguy hiểm hơn sự điên dại, và không có dòng chảy nào mạnh mẽ hơn sự tham lam”.

Khi bạn đang hận thù cũng chính là lúc bạn đang tự giam hãm chính bản thân. Sự bực tức, sự nổi giận sẽ đè lên đầu bạn chứ chẳng phải người kia. Xóa tan hận thù là giải thoát chính mình. Bạn nên để tâm thanh tịnh, có như vậy thì bạn mới có thể yên vui.

Thái độ là vấn đề của mọi thứ

Nếu bạn đang muốn làm bất kỳ điều gì thì hãy làm nó bằng cả trái tim. Một con tim thiếu nhiệt huyết sẽ khiến bạn chùn bước. Một trái tim đam mê sẽ là động lực thúc đẩy để bạn có thể phấn đấu vượt mọi khó khăn.

Tập trở thành một người hiểu biết

Tôi đã từng nghe ai đó nói: “Đừng chết vì thiếu hiểu biết”. Bạn có thể biết rồi làm sai để lần sau làm lại nhưng nếu không biết thì ngay từ đầu bạn đã là kẻ thất bại. Hiểu biết còn nằm ở chỗ bạn có hiểu được người khác. Khi tiếp xúc với một người, bạn nên buông bỏ sự giận dữ. Tập lắng nghe sau đó cảm nhận những gì họ đang cảm nhận, đặt bản thân mình vào tâm họ để nhận biết những điều mà họ đã trải qua. Đó là một niềm hạnh phúc, chứ không phải ai đúng ai sai.

Khi bạn đang hận thù cũng chính là lúc bạn đang tự giam hãm chính bản thân.

Biết kiểm soát tâm trí của chính mình

Đức Phật từng nói: “Không có gì có thể làm hại bạn nhiều như những suy nghĩ của chính bạn”.

Con quái vật lớn nhất trong lòng bạn chính là bản thân. Để chế ngự được nó thì trước tiên bạn phải thu phục được tâm trí, và kiểm soát suy nghĩ của chính mình. Ai có thể chinh phục được bản thân đều vĩ đại hơn người có thể chinh phục cả nghìn người trong trận chiến.

Có thể, đôi lúc, bạn sẽ nghĩ mình không làm được. Những lúc đó, bạn nên nghĩ tới câu này: “Bạn không thể có khả năng ngăn chặn một con chim đang bay trên đầu của bạn, nhưng bạn chắc chắn có thể ngăn chặn nó xây một chiếc tổ chim trên mái tóc của mình”.

Biết ơn người khác

Hãy biết ơn mỗi sớm mai thức dậy vì bạn có thêm một ngày để yêu thương. Bạn nên biết không phải ai cũng có thể thức dậy vào sáng mai, vì mỗi ngày có hàng triệu người phải gồng gánh những căn bệnh đau đớn.

Ngoài ra, bạn nên biết ơn những người đã giúp đỡ mình. Biết ơn cha mẹ. Biết ơn bạn bè, vì nếu không có họ thì sẽ không có ta. Bản thân chúng ta sinh ra là một cá thể độc lập nhưng một mình thì chẳng thể làm được bất cứ điều gì dù cho bạn có giỏi tới đâu.

Hãy biết ơn mỗi sớm mai thức dậy vì bạn có thêm một ngày để yêu thương.

Chia sẻ hạnh phúc

“Hàng ngàn ngọn nến có thể được thắp sáng chỉ từ một ngọn nến duy nhất, và cuộc đời của ngọn nến sẽ không bị rút ngắn. Hạnh phúc không bao giờ bị giảm bớt khi được chia sẻ”.

Từ nay, khi bạn hạnh phúc thì hãy mỉm cười với những người xung quanh. Đó là chia sẻ. Chỉ nhỏ nhặt vậy thôi nhưng điều mà nó mang lại vô cùng to lớn. Một ngọn nến được thắp sáng có thể truyền lửa cho những ngọn nến khác. Hạnh phúc của bạn chỉ sống mãi khi mọi người hạnh phúc. Hạnh phúc sẽ xóa tan đau đớn, tội lỗi và hận thù. San sẻ là sức mạnh ánh sáng để xóa mờ u tối của những điều xấu xa.

Phật Học

Lời Phật dạy về việc sử dụng tiền bạc đúng pháp

Tiền bạc nói cho cùng cũng chỉ là phương tiện. Nếu tiêu xài phung phí vô bổ, không dùng đồng tiền có được để làm lợi ích cho đời sống cá nhân và cộng đồng thì tiền bạc ấy xem ra cũng chẳng có mấy giá trị, vì không biết thọ dụng chơn chánh. Tiền […]
34

Tiền bạc nói cho cùng cũng chỉ là phương tiện. Nếu tiêu xài phung phí vô bổ, không dùng đồng tiền có được để làm lợi ích cho đời sống cá nhân và cộng đồng thì tiền bạc ấy xem ra cũng chẳng có mấy giá trị, vì không biết thọ dụng chơn chánh.

Tiền bạc của cải chỉ là phương tiện 

Phật dạy đệ tử chúng ta nên biết đủ để ngăn ngừa lòng tham lam của mình.

Tiền bạc của cải là phương tiện trao đổi để sử dụng hữu ích trong mối quan hệ của đời sống như ăn uống, ngủ nghỉ là nhu cầu cần thiết của con người. Về cơ bản, con người là chúng sinh cõi dục, do dục mà được sinh ra và hiện hữu, con người cần có các nhu cầu ăn, mặc, ở, bệnh, nghỉ ngơi, giải trí, hoạt động đi lại, giao tiếp và thưởng thức các cảm xúc khoái lạc giác quan…Con người không thể sống mà không ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi giải trí, thư giãn sau khi làm việc.

Tài sản của cải vật chất vốn là huyết mạch để bảo tồn sự sống cho tất cả mọi người. Mạch nhảy, máu lưu thông chạy khắp cơ thể nên con người mới sống và tồn tại. Tài là khả năng con người có được nhờ học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi, luyện tập và biết vận dụng phát huy vào trong đời sống để mưu cầu hạnh phúc.

Sống theo lời Phật: con dao trong tâm

Ở đời ai cũng có tài dù nhiều hay ít tùy theo khả năng mỗi người. Từ tài năng đó con người làm ra đồng tiền để nuôi sống bản thân, gia đình và góp phần xây dựng an vui, hạnh phúc cho xã hội. Tài sản nói chung bao gồm tất cả phương tiện vật chất liên quan đến đời sống con người, trong đó có vàng, bạc, tiền, nhà cửa và ruộng đất.

Ngày xưa, khi con người chưa biết xài tiền nên chỉ trao đổi hàng hóa bằng các phương tiện vật chất để đáp ứng nhu cầu sinh sống. Sau này con người văn minh, tiến bộ nên chế ra tiền để làm phương tiện cân bằng giá trị vật chất, tiền là đầu mối quan trọng làm con người đam mê phát huy tài năng để có được nhiều tiền.

Mặt phải, trái của sự giàu có

Ai cũng có ước mơ mình sau này trở nên giàu có, trừ những người đã đang sống trong những gia đình khá giả. Và ai cũng có thể ước mơ mình có khối tài sản khổng lồ, những căn biệt thự với sân vườn đẹp mắt, có hồ bơi, các loại xe sang, máy bay riêng để thỏa mãn những gì mình mong muốn.

Vậy, điều gì đã xảy ra với những người đã đạt được những gì họ tham vọng và mong muốn.

Tiền có thể mang lại những đổi thay trong cuộc sống, theo hai hướng tích cực và tiêu cực. Một gia đình khi làm ăn được lợi nhuận càng nhiều thì tham vọng càng lớn “thuyền to sóng lớn”. Tuy nhiên có nhiều người rất ham thích tiền, mê tiền đến nỗi lãng quên trách nhiệm đối với gia đình, người thân.

Người có nhiều tiền của chỉ mang lại sự thoải mái về các phương diện vật chất, nhưng rất lo lắng và sợ hãi, cho nên họ hay tìm kiếm các thầy tướng số để chỉ bày cách gìn giữ của cải. Họ không biết rằng, hiện tại giàu có là do biết gieo trồng phước báu nhiều đời, nên ngày nay mới có được như vậy.

Sự thoải mái về vật chất đủ đầy, không tạo nên hạnh phúc hay sự mãn nguyện thậm chí có thể làm cho chúng ta có rất nhiều kẻ ganh ghét, tật đố muốn hãm hại vì quy luật cạnh tranh để tồn tại. Sống thoải mái về mọi phương diện vật chất là điều tốt, nhưng cảm nhận được bình yên, hạnh phúc mới là lý tưởng sống lâu dài.

Sự giàu có cũng làm lộ ra bản chất của con người, nếu chúng ta là một người hiểm độc, việc trở nên giàu có sẽ khiến người đó trở nên mưu ma chước quỷ hơn. Ngược lại, nếu chúng ta là người nhân từ đức độ thì việc giàu có đó, sẽ đóng góp lợi ích thiết thực cho xã hội.

Tiền bạc, giàu có sẽ mang đến cho chúng ta nhiều thách thức, cám dỗ. Ảnh minh họa.

Sự giàu có cũng làm ảnh hưởng đến mối quan hệ với gia đình, bè bạn và xã hội. Một số người sẽ trông đợi sự giúp đỡ của chúng ta để được hưởng lợi ích, và ta cũng nên suy nghĩ những người này có quý mến mình thật sự không? “Hay họ chỉ đến vì tiền”.

Phần lớn mọi người đều cho rằng sự giàu có mang lại nhiều lợi ích thiết thực hơn cho gia đình họ. Tuy nhiên có nhiều tiền vẫn tốt hơn, khi chúng ta bệnh tật phải cần có một số tiền lớn để giải phẫu, nhờ vậy có thể thoát được chết chóc đau thương. Có tiền để giúp đỡ gia đình người thân và rộng hơn nữa là để đóng góp lợi ích cho xã hội khi cần thiết.

Sự thoải mái trong đời sống vật chất với đầy đủ tiện nghi, không thể đem đến hạnh phúc thật sự hay sự mãn nguyện lâu dài, bởi vì lòng tham lam của con người như giếng sâu không đáy, nó sẽ làm cho ta bất an lo lắng và sợ bị hao hụt, mất mát.

Khi chúng ta đã quen với nếp sống cao sang quyền quý, mọi nhu cầu đều có người phục dịch, sẽ làm cho cái ngã của ta lớn thêm, bởi ta nghĩ rằng mình là trung tâm của vũ trụ, là thầy thiên hạ, là ta, là của ta….,nên ta càng cống cao ngã mạn chẳng coi ai ra gì.

Nếu ta biết sử dụng đồng tiền đúng chỗ thì sẽ đem lại lợi lạc cho chính mình, gia đình người thân và đóng góp lợi ích thiết thực cho xã hội. Chính vì thế, tiền là huyết mạch của sự sống để mọi người phấn đấu gây dựng bằng tài năng của chính mình, qua sự làm việc đóng góp.

Có nhiều người nghĩ có tiền là hạnh phúc, thật ra tiền chỉ đem lại sự sung mãn về vật chất, nó không phải là yếu tố chính trong hạnh phúc. Tiền là vật vô tri do con người tạo ra, nhiều người không hiểu nên bị đồng tiền sai sử, chi phối mà làm những điều xấu ác.

Do nhu cầu sự sống, ai cũng cần phải có tiền để nuôi sống bản thân và gia đình, nhưng đồng tiền làm ra phải bằng mồ hôi, nước mắt của chính mình. Thật ra, ai cũng ước mơ đáng quý và trân trọng, lớn lên có một việc làm ổn định, có vợ hoặc chồng và có con để xây dựng hạnh phúc gia đình và góp phần an sinh đời sống cho xã hội.

Kinh Pháp Cú dạy:

Dầu mưa bằng tiền vàng,

Các dục khó thỏa mãn.

Dục đắng nhiều ngọt ít,

Biết vậy là bậc Trí.

Phật còn đưa ra một ví dụ khác: “Người đam mê đắm say chạy theo ngũ dục quá đáng thì chẳng khác gì người khát nước mà uống nước muối, càng uống càng thêm khát”.

Chính vì vậy, Phật dạy chúng ta phải biết muốn ít, biết đủ để ngăn ngừa lòng tham lam của mình, khi nào chúng ta cảm thấy đủ thì sẽ an ổn, nhẹ nhàng. Nên Kinh dạy: “Ái dục là cội gốc của luân hồi sinh tử”. Hầu như tất cả những nỗi khổ niềm đau, tội ác trên thế gian này đều do ái dục và lòng tham muốn quá độ mà ra.

Đừng để tiền bạc làm con người hại nhau

Một đời sống có ý nghĩa và giá trị, là một đời sống không quá lệ thuộc vào phương tiện vật chất, nhưng không thể không có tiền bạc và tài sản, vì nó là phương tiện để nuôi sống chúng ta. Để đảm bảo một đời sống tốt đẹp, hài hòa, Phật dạy người cư sĩ có quyền làm ra tiền bạc, của cải một cách chính đáng; nghĩa là từ sự tinh cần, siêng năng bằng đôi bàn tay và khối óc của mình để tạo dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho bản thân, gia đình, người thân và đóng góp lợi ích thiết thực xã hội.

Tuy nhiên, sự giàu có về vật chất chỉ đáp ứng nhu cầu đầy đủ sự sung túc cho con người, hạnh phúc thật sự trong cuộc sống không phải là người có nhiều tài sản, tiền bạc, quyền uy, thế lực, nhà cao cửa rộng, mà chính là tự do không bị ràng buộc bởi tham lam, sân hận, và si mê. Đó là một thứ hạnh phúc chân thật lâu dài, dù chúng ta có nhiều tiền bạc vẫn không thể mua bán, đổi chác được.

Do đó, ngoài việc có nhiều tiền bạc, của cải để có cơ hội phục vụ tốt cho gia đình, đóng góp cho đời, chúng ta cần phải thăng hoa đời sống tinh thần, phát huy con người tâm linh, nên thường sống trong chánh niệm tỉnh giác, mở rộng tấm lòng từ bi thương xót muôn loài bằng tình người trong cuộc sống.

Chúng ta nên lưu ý rằng tiền bạc không phải là tất cả mà chỉ là phương tiện trong cuộc sống. Ảnh minh họa.

Nhờ vậy chúng ta biết vun bồi xây dựng tài sản tâm linh, nên các tâm tư mê muội không có cơ hội xen vào như toan tính, hơn thua, tranh chấp, hận thù, tàn sát giết hại lẫn nhau, làm tổn thương nhân loại.

Tiền bạc, của cải có thể giúp ta giải quyết nhiều thứ trong cuộc đời, nên trước tiên ai muốn bảo tồn sự sống là cần phải có tiền. Nhưng tiền bạc, của cải khi có thì ta phải biết sử dụng như thế nào cho hợp lý? Một người công dân muốn sống an vui, hạnh phúc thì phải biết sử dụng bốn yếu tố căn bản sau đây:

Có công ăn việc làm ổn định nuôi sống bản thân và luôn thường xuyên trau dồi công việc nghề nghiệp được tốt đẹp. Tiền bạc làm ra bằng nghề nghiệp chân chính và phải biết cách gìn giữ không để thất thoát. Phải biết chi tiêu cân đối, hài hòa, không nên hoang phí quá mức, tiền làm ra ít mà muốn xài nhiều; hoặc tiền bạc làm ra nhiều mà không dám xài vào việc có lợi ích, thành ra bỏn xẻn.

Tiền bạc và tài sản là phương tiện để con người sinh sống, phục vụ cho cá nhân có nhu cầu ăn, mặc, ở hằng ngày. Muốn vậy, trước hết ta phải có một việc làm ổn định về lâu về dài, nhưng nghề nghiệp mình chọn không làm tổn hại cho nhân loại. Các nghề nên tránh như mua bán vũ khí, nô lệ, phụ nữ; các chất gây say, gây nghiện như rượu, xì ke, ma túy; chế tạo thuốc độc hoặc trực tiếp sát sinh hại vật bằng nhiều hình thức…

Có nhiều người vì sĩ diện bản ngã muốn chứng tỏ đẳng cấp giàu sang bằng người hoặc hơn người, nên đã vay nợ xây dựng nhà cửa khang trang dù nhu cầu không cần thiết, do đó lún sâu vào nợ nần, dẫn đến tán gia bại sản bởi họ không biết bằng lòng với hiện tại.

Đa số chúng ta ai cũng nghĩ có thật nhiều tiền bạc và của cải là hạnh phúc, đó là điều lầm lẫn quá lớn của nhân loại, nên khi có quyền lực trong tay thì tìm cách vơ vét, gom góp về cho riêng mình, nhưng tiền bạc làm ra từ sự phi pháp đó rất khó mà tồn tại lâu dài.

Khi có nhiều tiền thì phải hưởng thụ, vui chơi trác táng, dễ dẫn đến sa đọa làm mình và người khổ đau, làm mất hạnh phúc gia đình và tác hại xấu đến xã hội. Tiền làm ra không bằng mồ hôi, nước mắt của chính mình thường bị năm nhà cuốn trôi. Nhà lũ lụt, nhà hỏa hoạn, nhà trộm cướp, nhà vua quan tịch thâu, nhà con cái bất hiếu, phá sản và các tai nạn bất ngờ khác.

Chính vì để thỏa mãn lòng tham dục thì con người phải lao đầu vào gian khổ để tranh giành được mất, hơn thua mà tạo thêm nghiệp si mê không có ngày thôi dứt. Ví dụ, như trước đây chung ta có một chiếc xe máy, rồi chúng ta ước mơ muốn có xe hơi, khi được xe hơi rồi lại muốn xe siêu sang hiện đại. Con người ta sẽ khó dừng lại khi mình không chịu bằng lòng với hiện tại, vì lòng tham con người như giếng sâu không đáy.

Nói như vậy, không phải để chúng ta bi quan mà không chịu cố gắng siêng năng làm ăn nữa. Chúng ta vẫn làm việc phục vụ, nhưng bằng cả khối óc và con tim, bằng mồ hôi xương máu của mình, để không làm tổn hại người khác.

Hơn nữa, tiền của tuy cần thiết cho cuộc sống nhưng đâu phải lúc nào nó cũng mang lại hạnh phúc và an lạc cho chúng ta đâu? Thực tế cho thấy, có những gia đình lúc còn nghèo khó thì mọi người sống rất hoà thuận, vui vẻ với nhau, nhưng đến khi giàu có rồi thì tình cảm vợ chồng, con cái, anh em lại bị sứt mẻ và đổ vỡ, bởi lòng tham quá độ.

Vì lòng tham lam quá đáng mà con người ta có thể nhẫn tâm làm tổn hại người khác, để có tiền nhanh chóng. Một số người đã tán tận lương tâm làm ăn phi pháp như mua bán vũ khí, mua bán phụ nữ, mua bán xì ke, ma túy vì lợi nhuận quá cao, tạo ra nhiều băng nhóm tội phạm gây hiểm họa cho loài người, dẫn đến sự thiệt hại lớn lao của nhân loại, về mặt vật chất lẫn tinh thần.

Người Phật tử cần biết sử dụng tiền bạc đúng pháp 

Người đệ tử Phật sau khi cần mẫn lao động, kiếm tiền cần phải sử dụng tiền bạc đúng pháp để đem đến lợi ích cho mình và người, đời này và những đời sau. Ảnh minh họa.

Người Phật tử chân chính vì lòng từ bi thương xót chúng sinh nên không được kinh doanh, mua bán các loại chết người đó. Tiền bạc tài sản nếu sử dụng không đúng mục đích thì trở thành rắn độc, nhưng thiếu nó lấy gì để chúng ta sinh sống mà dấn thân phục vụ, hoằng pháp lợi sinh.

Mục đích của cuộc sống không phải là giàu có, nhiều tiền của mới là hạnh phúc, mà chúng ta phải biết bằng lòng với những gì đang có trong hiện tại, không nên đua đòi bắt chước làm bằng người, khi ta không có khả năng và điều kiện.

Tiền bạc chính là người đầy tớ tốt khi ta biết làm chủ đồng tiền, sử dụng vào việc chi tiêu hằng ngày tùy theo hoàn cảnh của mỗi cá nhân và gia đình. Sức mạnh của đồng tiền thật ghê gớm, nó có thể làm cho con người say mê, điên đảo bất chấp mọi thủ đoạn.

Người có tiền nếu biết sử dụng đúng cách vẫn đỡ hơn người không có tiền, như khi có bệnh hoặc giải quyết một số vấn đề cấp thiết. Người có tiền có bệnh không, có già không, có chết không? Nếu có thì phải có khổ. Tuy nhiên, người có tiền, có phước vẫn đỡ hơn người nghèo khó, bất hạnh ở chỗ sung túc, đầy đủ về vật chất.

Người tham muốn quá đáng dù tiền kho bạc đống, nhà ngang dãy dọc, đất ruộng cò bay thẳng cánh, cũng chưa cho là vừa, mà vẫn còn mong muốn được nhiều hơn nữa.

Do đó, người giàu hay kẻ nghèo đều phải biết tu tâm dưỡng tính thì sẽ chuyển hóa được bất hạnh, khổ đau trở thành an vui, hạnh phúc, ngay tại đây và bây giờ. Tiền bạc nói cho cùng, cũng chỉ là phương tiện để trao đổi hài hòa các nhu cầu cần thiết trong xã hội. Nếu ta không biết dùng tiền đúng chỗ, đúng nơi, hoang phí một cách vô bổ để phục vụ cho cá nhân và cộng đồng xã hội thì tiền bạc đó trở thành vô nghĩa.

Chính vì thế, đồng tiền làm ra phải chân chính, nếu không thì vô cửa trước luồn cửa sau hoặc có mà không đóng góp vào việc lợi ích cho mọi người, thì ta sẽ trở thành kẻ tham lam bỏn xẻn, keo kiệt.

Chúng ta có thể sống an lạc, hạnh phúc khi biết đủ và sẵn sàng làm lợi ích cho nhiều người. Ông bà chúng ta cũng thường dạy hãy nên gieo nhân tốt giúp người cứu vật, để lại phước đức cho con cháu sau này:

“Bởi chưng kiếp trước khéo tu,

Ngày nay con cháu võng dù thênh thang”.

Phật Học

Suy nghiệm lời Phật: Bổn phận của người xuất gia và tại gia

Từ xưa đến nay, hàng xuất gia (Sa-môn, Bà-la-môn) tu hành không trực tiếp lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất nên đời sống phụ thuộc vào sự bố thí, cung cấp, cúng dường của hàng tín đồ tại gia. Dĩ nhiên, sự phát tâm cao thượng, cho đi một phần […]
33

Từ xưa đến nay, hàng xuất gia (Sa-môn, Bà-la-môn) tu hành không trực tiếp lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất nên đời sống phụ thuộc vào sự bố thí, cung cấp, cúng dường của hàng tín đồ tại gia.

Dĩ nhiên, sự phát tâm cao thượng, cho đi một phần tài sản của mình với lòng tin trong sạch sẽ mang đến cho các tín chủ tại gia quả phước vô lượng.


Với người tại gia thí chủ, phát tâm hộ trì Tam bảo, cung cấp bốn vật dụng thiết yếu mỗi ngày cho chư Tăng mà không hề lẫn tiếc, không biết mệt mỏi

Về phía người xuất gia nuôi mạng bằng sự nhận thí, ngoài việc phải xứng đáng (tức có giới hạnh, có tu hành) thì còn mang trách nhiệm nặng nề. Nếu không làm tròn bổn phận của mình, không giáo hóa dẫn dắt tín đồ hướng thiện mà thọ nhận nhiều thì sẽ mang nợ của tín thí. Do vậy, Đức Phật thường răn nhắc hai chúng xuất gia và tại gia phải thực thi bổn phận và trách nhiệm của mình, “làm được như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ”.

“Một thời Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt-kỳ cùng với chúng Đại Tỳ-kheo 1.250 người. Bấy giờ, vào lúc thích hợp, Ðức Thế Tôn khoác y cầm bát vào thành khất thực. Lúc bấy giờ tại thành La-duyệt-kỳ có con trai của trưởng giả tên là Thiện Sinh, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành, đi đến khu vườn công cộng sau khi vừa tắm gội xong, cả mình còn ướt, hướng đến các phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới mà lạy khắp cả.

Phật lại bảo Thiện Sinh:

– Kẻ đàn việt cung phụng hàng Sa-môn, Bà-la-môn với 5 điều: 1- Thân hành từ. 2- Khẩu hành từ. 3- Ý hành từ. 4- Đúng thời cúng thí. 5- Không đóng cửa khước từ.

– Sa-môn, Bà-la-môn cũng khuyên dạy theo 6 điều: 1- Ngăn ngừa chớ để làm ác. 2- Chỉ dạy điều lành. 3- Khuyên dạy với thiện tâm. 4- Cho nghe những điều chưa nghe. 5- Những gì đã được nghe làm cho hiểu rõ. 6- Chỉ vẽ con đường sanh Thiên.

Này Thiện Sinh, nếu đàn-việt kính phụng hàng Sa-môn, Bà-la-môn như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ”.

(Kinh Trường A-hàm, kinh Thiện Sinh, số 16 [trích])

Với người tại gia thí chủ, phát tâm hộ trì Tam bảo, cung cấp bốn vật dụng thiết yếu mỗi ngày cho chư Tăng mà không hề lẫn tiếc, không biết mệt mỏi. Niệm niệm luôn thương kính người xuất gia, trong các hành động, trong mỗi lời nói, trong từng suy nghĩ đều bao hàm yêu thương, tôn kính, hộ trì. Đức Phật luôn nhắc nhở hàng đệ tử tại gia bố thí với tuệ, biết rõ quả phước của việc mình làm. Người xuất gia cần thực phẩm, y phục, thuốc men, phòng xá liền kịp thời đáp ứng, không khước từ. Làm được như vậy mới là đệ tử tại gia chân chính hộ trì.

Người xuất gia thọ dụng của tín thí với trách nhiệm rất nặng nề. Đó là thường chỉ dạy những điều lành cho thí chủ, ngăn ngừa không cho họ làm ác. Làm sao để nói cho người khác nghe nếu bản thân mình không hơn họ về đạo đức, từ bi và trí tuệ? Muốn được vậy người tu phải khuyên dạy với thiện tâm, phải cố gắng tu hành giới-định-tuệ thanh tịnh và trang nghiêm, là mô phạm ở đời. Những gì hàng đệ tử chưa nghe cần nói cho họ nghe rõ ràng, nếu đã nghe rồi thì cần phải hiểu cho chính xác. Nghe hiểu tỏ tường giáo pháp của Đức Phật rồi đức tin trong sạch vào Tam bảo sẽ phát sinh. Từ đây họ có thể chuyển hóa ba nghiệp thân khẩu ý, siêng năng tích phước hành thiện, tạo nền tảng cho phước báo của trời người.

Vì vậy, hai chúng xuất gia và tại gia như hai cánh của con chim, muốn bay cao và bay xa thì cần nâng đỡ lẫn nhau, giữ thăng bằng cho nhau. Hàng tại gia giữ vai trò hộ pháp, hàng xuất gia có nhiệm vụ hoằng pháp, cả hai cần liên kết và hỗ trợ nhau tu hành nhằm duy trì Chánh pháp thường trụ ở đời để lợi ích chúng sinh.

Quảng Tánh / Giác Ngộ số 1067

Phật Học

Sống theo lời Phật: Nương theo nghiệp

Mỗi người hiện hữu trên cõi đời đều có những nghiệp báo riêng, chẳng ai giống ai. Nghiệp báo là nghiệp quả báo ứng. Nghiệp nhân ta gây thì nghiệp quả ta phải gánh chịu. Cũng giống như ta trồng cây nào thì ta sẽ nhận quả của cây đó. Chúng ta làm việc thiện […]
29

Mỗi người hiện hữu trên cõi đời đều có những nghiệp báo riêng, chẳng ai giống ai. Nghiệp báo là nghiệp quả báo ứng. Nghiệp nhân ta gây thì nghiệp quả ta phải gánh chịu. Cũng giống như ta trồng cây nào thì ta sẽ nhận quả của cây đó.


Chúng ta làm việc thiện thì gặp phước báo thiện, làm ác thì gặp ác báo. Nghiệp tạo nên từ nơi thân, khẩu, ý. Làm lành, nói lành thì tạo nên quả báo lành, còn làm ác, nói ác thì tạo ra quả báo ác. Ảnh minh họa

Vua Di Lan hỏi ngài Na Tiên: “Người trong đời ai cũng có tứ chi đầy đủ: đầu, mặt, mắt, tay và thân thể… Nhưng sao có người sống lâu, có kẻ chết yểu, cho đến người bệnh ít, bệnh nhiều, nghèo – giàu, cao – thấp, đẹp đẽ – xấu xí; lại có người được người ta tin cậy, có người bị người ta nghi ngờ; có kẻ thông minh, có người ngu muội. Tại sao có sự bất đồng như thế thưa Ngài?”.

Ngài Na Tiên đáp: “Ví như trái cây của các thứ cây: có thứ cay, chua, thứ đắng, ngọt – Ngài hỏi lại nhà vua – vì sao nó sai khác như thế, tâu Đại vương?”.

Vua đáp: “Vì trồng nhiều thứ cây khác nhau”. Ngài nói: “Cũng giống như người trồng cây kia. Bởi hành động tạo tác của mỗi người sai khác chẳng đồng, chẳng ai giống ai, cho nên mới có quả báo sai biệt như Đại vương vừa kể trên. Và còn thêm nữa: ai cũng có cái miệng mà sao có kẻ nói ra tiếng, mà có người lại câm! Cho nên kinh Phật dạy: giàu sang, nghèo hèn, xấu tốt là đều do sự tạo tác của đời trước mà có, thời thiện ác tùy theo tự thân mình mà có được vậy.

Lời bàn:

Mỗi người hiện hữu trên cõi đời đều có những nghiệp báo riêng, chẳng ai giống ai. Nghiệp báo là nghiệp quả báo ứng. Nghiệp nhân ta gây thì nghiệp quả ta phải gánh chịu. Cũng giống như ta trồng cây nào thì ta sẽ nhận quả của cây đó. Nghiệp nói chung là hành động tạo tác theo thói quen của mỗi người. Nghiệp có thiện có ác. Chúng ta làm việc thiện thì gặp phước báo thiện, làm ác thì gặp ác báo. Nghiệp tạo nên từ nơi thân, khẩu, ý. Làm lành, nói lành thì tạo nên quả báo lành, còn làm ác, nói ác thì tạo ra quả báo ác.

Bởi vậy, là người học Phật, chúng ta phải tích cực gieo tạo thiện nghiệp để chuyển hóa những khổ đau để có được sự an lạc hạnh phúc thật sự. Ảnh minh họa.

Chính từ nghiệp, nó sẽ phát xuất ra kết quả như một tác động của luật nhân quả. Nếu như một người thiếu sự tu tập thì sẽ phóng túng, buông lung để cho sức mạnh của nghiệp chi phối nội tâm của mình. Ta cứ phóng tâm theo sự biến chuyển của ngoại cảnh, sống trong những vọng tưởng của tâm thức mà không có khả năng chế ngự. Phật dạy nếu chúng ta đã phạm phải một nghiệp xấu, chúng ta cũng không nên hoảng sợ hay chán nản, mà phải cố gắng điều chỉnh lại cho đúng. Để làm được điều này, trước tiên chúng ta phải tích cực gây tạo nhiều nhân tốt. Và điều quan trọng hơn là để tránh các nghiệp xấu, ta phải giảm tối thiểu những tư tưởng tội lỗi, ích kỷ, ganh tỵ, hiềm khích, oán ghét, nóng giận.

Tự bản thân của chúng ta phải dùng trí tuệ để quán chiếu, nhận thức được những thiện niệm và bất thiện niệm sinh khởi trong tâm mình rồi diệt trừ nó. Ngoài ra, không ai có thể làm việc ấy cho chúng ta được, ngay cả đức Phật. Ngài cũng dạy rõ ràng: Ngài chỉ có thể hướng dẫn đường phải đi và phải làm, chứ Ngài cũng không đi thay hoặc làm thay cho bất cứ ai được.

Bởi vậy, là người học Phật, chúng ta phải tích cực gieo tạo thiện nghiệp để chuyển hóa những khổ đau để có được sự an lạc hạnh phúc thật sự.

Phật Học

Nghiệp qua sự ẩn dụ sâu sắc từ lời Phật dạy

Đức Phật đã kể câu chuyện này khi ngài còn tại thế để khuyên nhủ và răn dạy hàng đệ tử chúng ta. Dân gian hay nói: một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chèo quèo, bốn vợ ngủ chuồng heo. Ảnh minh họa. Đứng trước dòng thác lũ […]
15

Đức Phật đã kể câu chuyện này khi ngài còn tại thế để khuyên nhủ và răn dạy hàng đệ tử chúng ta. Dân gian hay nói: một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chèo quèo, bốn vợ ngủ chuồng heo.

Ảnh minh họa.

Đứng trước dòng thác lũ cuộc đời nên hư, thành bại, phải quấy, tốt xấu, hơn thua và vô vàn sự cám dỗ, con người cứ như thế loanh quanh, lẫn quẫn mà tạo ra không biết bao điều tội lỗi.

Có ông trưởng giả nọ, không biết gieo tạo nghiệp nhân gì mà có đến bốn bà vợ. Bà thứ nhất được cha mẹ hai bên chấp nhận nên đứng ra làm lễ thành hôn đàng hoàng. Khi về nhà chồng, bà được ông trưởng giả hết sức cưng yêu chiều chuộng, nên bà muốn gì được đó và sống trong an vui, hạnh phúc. Mỗi khi trời lạnh, ông lo cho bà đầy đủ nệm ấm chăn êm. Đến lúc trời nóng, ông lo quạt mát cho bà. Nói chung, từ ăn uống, vui chơi, sinh hoạt, làm việc, cho đến ngủ nghỉ, ông đều lo cho bà đầy đủ chu đáo hết tất cả, mọi nhu cầu cần thiết không thiếu một thứ gì.

Kế đến bà vợ thứ hai, bà ta đúng là một trang tuyệt sắc giai nhân, xinh đẹp chẳng khác nào nàng Tây Thi năm xưa ở bên Tàu. Mặc dù nàng không được cưng chiều như bà thứ nhất cho lắm, nhưng bà thứ hai vì quá xinh đẹp, kiều diễm, dễ thương, nên làm cho ông trưởng giả đắm say, mê mẫn, tê tái cả tâm hồn. Thậm chí, mỗi khi bà có chuyện bận phải đi xa, lâu ngày mới về, ông trưởng giả thầm thương, trộm nhớ, đứng ngồi không yên, có khi quên cả ăn uống, thức sáng suốt thâu đêm mà nhớ thương về nàng. Những khi bà vắng nhà hơi lâu, ông trưởng giả rầu rĩ lo âu, buồn khổ, mong nhớ ngày đêm như kẻ mất hồn, nhiều khi ông ta muốn tìm cách tự tử quyên sinh, chết phức cho rồi mỗi khi vắng bà.

Ảnh minh họa.

Còn bà vợ thứ ba tuy không đầm thắm và mặn nồng như hai bà trước, nhưng lâu ngày chung chạ ăn nằm với nhau, tình cảm vợ chồng cũng trở nên đậm đà, sâu sắc, và càng ngày sống có tình nghĩa hơn. Do đó, ông trưởng giả đối với bà cũng có chút ân nghĩa khi cần, mà chia sẻ nâng đỡ cho nhau những nỗi khổ niềm đau, và cùng vui sống, yêu thương đùm bọc, giúp đỡ san sẻ cho nhau.

Rồi đến bà vợ thứ tư, bà này hình như suốt cả đời chịu nhiều phiền muộn khổ đau, đắng cay tuổi nhục, bởi bà rất thương yêu, chiều chuộng, chăm sóc ông trưởng giả hết mình. Công việc dù khó khăn, cực khổ, nhọc nhằn đến đâu, bà cũng ráng cố gắng lo chu toàn mọi thứ. Nhưng ngược đời thay, ông trưởng giả chẳng thèm để ý hay quan tâm, thương tưởng đến bà, thậm chí nhiều khi còn đánh đập, xua đuổi, hắt hủi bà như kẻ hầu, người ở.

Riêng đối với bà vợ thứ tư, lúc nào bà cũng có mặt bên ông như bóng với hình, chẳng bao giờ rời xa một bước. Thế mà ông chẳng thèm ngó ngàng gì đến, chỉ quan tâm thương tưởng đến ba bà kia, làm cho bà thầm thương trộm nhớ, khổ sở vô cùng, tuy sống gần gũi bên ông nhưng giống như kẻ âm người dương cách biệt nghìn trùng.

Khi ra đi ta chỉ mang theo nghiệp tốt xấu

Đức Phật đã kể câu chuyện này khi ngài còn tại thế để khuyên nhủ và răn dạy hàng đệ tử chúng ta. Dân gian hay nói: một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chèo quèo, bốn vợ ngủ chuồng heo.

Câu chuyện trên là một bài pháp sống động với ẩn dụ sâu sắc, nhằm giúp chúng ta biết soi sáng lại chính mình mà nhận ra lẽ thật hư trong cuộc đời. Phật đưa ra hình ảnh bốn bà vợ là để ám chỉ cho bốn thứ gần gũi nhất trong đời sống hằng ngày của chúng ta, nhưng ta nào hay biết, cứ mãi vui chơi, lao mình chìm đắm trong biển khổ sông mê mà luống để thời gian trôi qua vô ích. Cho nên:

Trăm năm trước khi ta chưa có

Thời gian vẫn trôi qua lặng lẽ.

Trăm năm khi ta đang có mặt

Thời gian vẫn âm thầm qua mau.

Trăm năm sau khi ta chết

Thời gian không vì thế mà buồn rầu.

Ta chỉ tiếc để thời gian trôi

Mà buông lung làm việc vô nghĩa.

Một hôm, ông trưởng giả bệnh nặng, biết mình khó qua khỏi con trăng này, nên ông cho mời bốn bà vợ lại để hỏi xem có bà nào chung thủy, phát tâm theo ông về thế giới bên kia hay không?

Ông quay sang hỏi bà vợ thứ nhất, “bà có phát tâm theo tôi về bên kia thế giới vĩnh hằng hay không?”

Bà thứ nhất nói rằng, “xin anh hãy thông cảm và tha thứ cho em, em vẫn biết và nhớ ơn anh rất nhiều. Cuộc sống của em bao nhiêu năm nay nhờ anh tận tình lo lắng, chăm sóc, giúp đỡ, em thật thoải mái và an lạc hạnh phúc. Anh đúng là mẫu người chồng lý tưởng có một không hai trên cõi đời này. Chính vì vậy, em luôn yêu thương và nhớ ơn anh vô cùng. Nhưng bây giờ, anh bảo em theo anh về bên kia thế giới vĩnh hằng để cùng chung sống với nhau cho trọn tình trọn nghĩa thì không thể nào được. Anh hãy thông cảm và tha thứ cho em, vì ai cũng có nhân duyên và hoàn cảnh khác nhau.

Mặc dù em không được ở gần bên anh, vắng anh em sẽ thiếu thốn, khó khăn, khổ sở vô cùng. Thà rằng em chịu cô đơn, đau khổ một mình, chứ em không thể nào đi theo anh được, xin anh hãy khoan dung độ lượng mà cảm thông và tha thứ cho em. Vì tình nghĩa vợ chồng bấy lâu nay, nếu anh có chết đi, em sẽ tiễn đưa anh ra tới cổng nhà là cũng quý và tình nghĩa lắm rồi”.

Ảnh minh họa.

Ông trưởng giả nghe bà thứ nhất nói như vậy, hai hàng lệ rơi lăn tròn trên khóe mắt, ngậm ngùi đau khổ quay sang bà vợ thứ hai, “còn em? Em có thể theo anh về thế giới bên kia hay không, hỡi em yêu dấu?”

Bà thứ hai thì thông minh lanh lợi hơn, nên nhanh nhẫu trả lời rằng, “Anh cứ yên chí đi, anh khỏi phải bận bịu lo lắng chuyện đó nữa, vì chúng ta ai cũng có phúc có phần. Bình thường lúc đương thời, anh thương yêu chăm sóc và lo lắng cho em thật nhiều, em rất biết ơn anh đã sống có tình có nghĩa với em như thế. Nhưng em bây giờ còn trẻ đẹp, còn xinh xắn, còn dễ thương, còn mi nhon, nên rất được nhiều người ngắm nghía thèm thuồng, thương tưởng đến em, tương lai của em còn tràn đầy sức sống và nhiều hy vọng. Nếu anh có ra đi về bên kia miền đất hứa, thì xin anh hãy cảm thông mà âm thầm lặng lẽ một mình cất bước. Em hiện giờ tương lai còn xán lạn, do đó cần phải tìm một đấng lang quân để nương tựa lâu dài và sống hết quãng đời còn lại. Nghĩ tình anh thương yêu chiều chuộng và lo lắng cho em trong nhiều năm qua, em nghĩ chút tình sẽ tiễn đưa anh ra tới cửa nhà, vậy cũng là quý lắm rồi anh ạ”.

Nghe bà thứ hai nói vậy, ông trưởng giả như đứt từng khúc ruột, đau xót não nề mà quay sang bà vợ thứ ba, “còn em thì sao? Em có thể theo anh về bên kia miền đất hứa?

Bà vợ thứ ba nghe ông trưởng giả hỏi vậy, bà ta vừa khóc vừa nói, “Lúc anh còn mạnh khỏe, anh chỉ biết lo cho chị cả và chị hai mà ít bao giờ quan tâm, đoái hoài, thương tưởng đến em. Tuy nhiên, vẫn có những lúc anh hết mực yêu thương em chân thành. Nghĩ chút tình chồng nghĩa vợ bấy lâu nay, sau khi anh về thế giới bên kia, em sẽ đưa anh ra tận nghĩa trang để lo cho anh yên mồ yên mã, sau đó em sẽ cúng tế, giỗ chạp cho anh đầy đủ, để trả lại công ơn anh đã thương tưởng, đoái hoài đến em khi còn sống. Còn việc phải đi theo anh về bên kia miền đất hứa thì không thể nào được, em còn phải có bổn phận, trách nhiệm đối với gia đình người thân, xin anh hãy hiểu và thông cảm cho tấm lòng thành thật của em”.

Như tiếng sét đánh ngang tai, bao nhiêu mộng đẹp bấy lây nay bây giờ tan tành theo mây khói, ông trưởng giả rụng rời tay chân, toát cả mồ hôi hột, cảm thấy khổ đau vô cùng, chẳng còn biết nghĩ gì hơn, ông đành chấp nhận nhắm mắt xuôi tay, mặc cho số phận ra sao cũng được.

Lúc này, bà vợ thứ tư như hiểu được tâm trạng của ông đang muốn gì, nên bà mới ân cần nói rằng, “Này anh yêu dấu của em! Anh chớ nên lo buồn, sầu khổ quá đáng. Anh cứ yên chí đi, em sẽ là người theo anh suốt cả cuộc hành trình, dù anh có đến chân trời góc biển xa xôi nào, hoặc lên thiên đường hay xuống địa ngục. Mặc dầu bình thường anh chỉ quan tâm, lo lắng cho chị cả, chị hai và chị ba, chẳng bao giờ anh biết nhớ nghĩ và thương tưởng đến em, thật ra em cũng rất đau buồn và khổ sở lắm chứ; nhưng dù sao, chúng ta vẫn là vợ chồng với nhau, nghĩ chút tình chồng vợ, em sẽ nguyện theo anh trong suốt ba cõi sáu đường. Anh cứ yên chí vì đã có em kề cận, không rời xa anh nửa bước, anh đi tới đâu thì em sẽ theo anh tới đó”.

Nghe được những lời nói ngọt ngào và êm dịu như thế, ông trưởng giả như được mãn nguyện, liền vui lòng nhắm mắt ra đi.

Phật dạy nghiệp báo theo ta như bóng với hình

Thật ra, chết không phải là hết, mà chết chỉ là thay hình đổi dạng để tiếp tục đời sống mới trong ba cõi sáu đường, trời, người, A Tu La, và địa ngục, quỷ đói, súc sinh.

Đây là một bài kinh ẩn dụ mang một triết lý sâu sắc, để lại cho mỗi hành giả phải suy ngẫm, quán chiếu, soi sáng, và có sức định tĩnh trong tu tập, mới có thể hiểu thấu hết lời Phật dạy. Tại sao Phật không dùng một hình ảnh nào khác để thí dụ, mà lại dùng hình ảnh bốn bà vợ với mục đích gì? Vì hình ảnh này luôn luôn gần gũi với đời sống hằng ngày của chúng ta, nhằm phá sự chấp trước do si mê tham đắm, mà thấy biết sai lầm không đúng với lẽ thật về thân phận của một kiếp người.

Hình ảnh bà vợ thứ nhất, Phật dụ cho sắc thân của mỗi người chúng ta.

Hình ảnh bà vợ thứ hai, Phật dụ cho tiền bạc của cải của chúng ta ở trong nhà. Ta đi đâu đó cũng đều có tiền trong túi và không thể thiếu nó. Nhưng khi chúng ta chết, nó chỉ nằm trong tủ hoặc két sắt thuộc phạm vi trong nhà, vì vậy mà bà vợ thứ hai chỉ nói đưa tới cửa mà thôi.

Hình ảnh bà vợ thứ ba, Phật dụ cho ông bà cha mẹ và họ hàng thân thuộc của hai bên chồng vợ. Người vợ thứ ba dụ cho sự nghiệp gia đình người thân, công danh chức tước. Khi đưa quan tài người chết tới huyệt thì họ đọc điếu văn kể công trạng, rồi mới hạ huyệt chôn cất, nên nói đưa tới mộ.

Hình ảnh bà vợ thứ tư, Phật dụ cho việc làm của mỗi người chúng ta được lập đi lập lại nhiều lần từ thân miệng ý, từ vô thủy kiếp đến nay, hay còn gọi là thói quen hoặc nghiệp báo. Cho nên, bà vợ thứ tư dụ cho nghiệp lành hay nghiệp dữ luôn theo ta như hình với bóng, ta ở đâu thì nó theo đó không rời nửa bước, chính vì thế mới tình nguyện chết theo.

Ai cũng vậy, lúc còn sống thì ta thương yêu quý tiếc gìn giữ sắc thân, tiền bạc của cải, và lo lắng bảo vệ cho gia đình người thân, nên từ đó ta dễ dàng gây tạo nhiều tội lỗi. Đến khi sắp chết lìa đời, ba thứ ta hay lo lắng, quý tiếc gìn giữ thân thương nhất, lại không thể nào mang theo được, mà chỉ mang theo nghiệp lành hay nghiệp dữ đã làm trong hiện tại.

Khi ta chuẩn bị từ giã cõi đời thì ba thứ thân thương nhất ta đều phải bỏ lại hết, duy chỉ có bà vợ thứ tư là ẩn dụ cho nghiệp báo tốt xấu của mỗi người, nó theo ta như bóng với hình, ta sinh ra chỗ tốt hay đọa vào chỗ xấu là tùy thuộc vào việc làm và thói quen của ta trong hiện tại. Nó sẽ theo ta trong suốt cuộc hành trình với những đời sống kế tiếp.

Thật ra, chết không phải là hết, mà chết chỉ là thay hình đổi dạng để tiếp tục đời sống mới trong ba cõi sáu đường, trời, người, A Tu La, và địa ngục, quỷ đói, súc sinh. Hai loại chúng sinh ta dễ dàng nhìn thấy nhất là con người và các loài súc sinh. Còn bốn con đường kia, khi ta có sự thể nghiệm trong quán chiếu tu tập, ta mới có thể thấy rõ tường tận từng cảnh giới sống của chúng.

Nhìn vào thực tế trong đời sống nhân gian bằng sự quán sát và xem xét, ta có thể thấy chư Thiên vẫn hiện hữu nơi cõi người. Như những người giàu sang nhiều tiền bạc của cải, họ có quyền cao chức trọng, nhưng họ vẫn sống có nhân cách và đạo đức, luôn luôn giúp người cứu vật, sống vì lợi ích tha nhân nhiều hơn là chính mình. Đó là chư Thiên hiện tiền trong thế giới con người chúng ta.

Có nhiều người tuy thường xuyên gieo trồng phước đức, giúp người cứu vật, và sẵn sàng san sẻ giúp đỡ khi gặp người khó khăn hoạn nạn, bất hạnh khổ đau, nhưng tính tình còn nhiều nóng giận hay la rầy, nói nặng nói nhẹ, mắng chửi người khác, do đó hiện tướng A Tu La ngay nơi cuộc sống này. Ai đang làm từ thiện để đóng góp sẻ chia thì hãy nên suy xét lại, nếu không khéo tuy có lòng giúp đỡ tha nhân, nhưng làm cho người ta sinh tâm ganh ghét, giận hờn, có khi gây thù chuốc oán, phản tác dụng.

Phật dạy, đời sống của chúng ta là một chuỗi dài nhân duyên, liên quan mật thiết với nhau.

Ai trực tiếp giết hại người vật một cách tàn nhẫn, dã man, không thương tiếc, chế tạo vũ khí để xúi người ta giết chóc hoặc mở lò sát sinh, luôn gây chiến tranh để nhân loại tàn sát giết hại lẫn nhau, thì địa ngục sẽ hiện tiền nơi cõi Ta Bà này. Người Phật tử chân chính không trực tiếp, hay xúi bảo, hoặc vui vẻ khi thấy người khác giết hại, thì tránh được khổ báo không bị đọa địa ngục trong hiện tại và mai sau.

Kẻ tham lam bỏn sẻn có nhiều tiền của không đem ra giúp người khi gặp thiếu thốn khó khăn, thà để hư mục, hoặc bóc lột sức lao động của con người và vật quá đáng. Tuy giàu có nhưng không bao giờ biết mở lòng với ai, mà còn tìm cách vơ vét về cho riêng mình, tâm địa ích kỷ, san tham, hẹp hòi là nhân đọa vào loài quỷ đói, để chịu khổ báo đói khát vô lượng kiếp.

Nói tóm lại, chính vì sự sống của riêng mình và người thân, hay rộng hơn là một đất nước hoặc tất cả chúng sinh trong bầu vũ trụ bao la này mà ta đành lòng giết hại gây đau khổ cho nhau cũng chỉ miếng ăn thức uống, hay các nhu cầu hưởng thụ cần thiết khác. Phật dạy, đời sống của chúng ta là một chuỗi dài nhân duyên, liên quan mật thiết với nhau. Dù ta có tài giỏi đến đâu cũng phải nương nhờ lẫn nhau theo tiến trình diễn biến nhân quả mới bảo tồn mạng sống, ta không làm ruộng nhưng vẫn có cơm để ăn, ta không dệt vải nhưng vẫn có quần áo để mặc, và cứ tương tự như thế các nhu cầu cần thiết khác cũng lại như vậy. Chính vì thế, Phật dạy chúng ta cần phải có bổn phận, trách nhiệm, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng trái tim hiểu biết, trên tinh thần vô ngã, vị tha.

Phật Học

Phật dạy pháp ‘trừ sầu lo’

Để an vui, người con Phật hằng quán sát vô thường là đặc tính của thế gian. Trong vũ trụ này, chỉ có sự vô thường mới thực sự thường hằng. Nói cách khác là không hề có sự vĩnh cửu, thường hằng. Đây là tuệ giác lớn mà chúng sinh cần có để vượt […]
25

Để an vui, người con Phật hằng quán sát vô thường là đặc tính của thế gian. Trong vũ trụ này, chỉ có sự vô thường mới thực sự thường hằng. Nói cách khác là không hề có sự vĩnh cửu, thường hằng. Đây là tuệ giác lớn mà chúng sinh cần có để vượt ra khỏi khổ.

Khi cha mẹ qua đời chính là thời khắc mà chúng ta cảm nhận về sự mất mát rõ ràng nhất, dầu sinh diệt vẫn liên tục diễn ra quanh ta trong mỗi phút giây. Dĩ nhiên cảm xúc vỡ òa, mất mát trào dâng, đau thương ngút ngàn khi ly biệt xảy đến là lẽ thường của nhân thế. Ái biệt ly khổ! Thương kính cha mẹ càng nhiều thì niềm đau càng lớn, lo sầu càng khôn nguôi.

Ai cũng có cha mẹ, và cuối cùng thì dẫu duyên nghiệp thế nào, con cái có trọn hiếu hay không thì cha mẹ cũng lần lượt ra đi như một quy luật lạnh lùng, nghiệt ngã. Vẫn biết biệt ly là chuyện không thể níu kéo, trì hoãn hay vãn hồi. Mỗi ngày nhìn xe tang qua phố với bao kẻ ‘mồ côi’ lũ lượt tiễn đưa mà lo sợ cho chính mình. Và rồi chuyện gì sẽ đến cũng đã đến. Người đi thì đã đi, người còn thì không thể ngã quỵ dù tiếc thương đến mấy. Phải gượng dậy và đứng lên, biến đau thương thành cầu nguyện.

Thế Tôn từng nhấn mạnh: “Tất cả pháp biến đổi, muốn cho không biến đổi, trọn không có việc này”.

Thời Thế Tôn còn tại thế, vua Ba-tư-nặc, một vị quân vương Phật tử hộ pháp thuần thành, khi mẹ hiền vừa qua đời ông đến đãnh lễ Thế Tôn và được dạy pháp ‘trừ sầu lo’. Lạ lùng là, Thế Tôn không dạy vua Ba-tư-nặc về cách thức cầu siêu cho người mất hay tang lễ theo tập tục mà Ngài lại dạy pháp bình an cho người sống, chính xác là dạy cầu an. Có lẽ tang nghi của bậc quốc mẫu thì đã có triều đình lo; có thể tập tục tang ma xứ Ấn ngày xưa khác biệt với xứ mình hiện tại? Có khi nào, cầu an cũng chính là cầu siêu? Pháp ‘trừ sầu lo’ là cầu an nhưng cả người sống và người chết cũng đều cần nhằm thăng hoa cuộc sống.

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ vua Ba-tư-nặc ra lệnh quần thần sửa soạn xe vũ bảo muốn ra khỏi thành Xá-vệ xem đất làm giảng đường. Ngay lúc đó, mẹ vua Ba-tư-nặc tuổi quá già yếu, vừa đúng trăm tuổi, vua rất tôn kính nhớ nghĩ chưa từng rời mắt (vừa mạng chung). Khi ấy, vị cận thần của vua Ba-tư-nặc tên Bất-xà-mật tài cao cái thế, được người đời tôn trọng. Vị đại thần này nghĩ: ‘Mẹ vua Ba-tư-nặc này đã vừa trăm tuổi, hôm nay mạng chung, nếu mà nghe được, chắc vua rất sầu lo, không ăn uống nổi, rồi mắc trọng bệnh. Nay ta nên bày phương tiện, khiến vua chẳng sầu lo, cũng không mắc bệnh’.

Bấy giờ, đại thần liền sửa soạn năm trăm voi trắng, cũng sửa soạn năm trăm ngựa tốt, lại chỉnh đốn năm trăm bộ binh, lại sửa soạn năm trăm kỹ nữ, năm trăm bà già, lại xếp đặt năm trăm Bà-la-môn, lại có năm trăm Sa-môn, lại sửa soạn năm trăm y phục, và bày năm trăm trân bảo, làm quan tài lớn đẹp cho người chết, tô vẽ cực đẹp, treo phướn lọng, trỗi kỹ nhạc không thể tính kể, ra khỏi thành Xá-vệ. Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc trở vào thành vì có chút việc. Vua từ xa thấy người chết, mới hỏi tả hữu:

– Đây là người nào mà cúng dường đến thế?

Bất-xà-mật tâu:

– Trong thành Xá-vệ này, có mẹ của Trưởng giả chết. Đây là vật dụng của họ.

Vua lại hỏi:

– Những voi, ngựa, xe cộ này dùng làm gì?

Đại thần đáp:

– Năm trăm bà già dùng dâng lên Diêm vương để mua mạng (bà mẹ).

Vua bật cười nói:

– Đây là lỗi của người ngu. Mạng cũng khó bảo toàn, đâu có thể chế phục được. Như có người rơi vào miệng cá ma-kiệt, muốn mong ra khỏi, thật là khó được. Đây cũng như thế, đọa vào vua Diêm-la, muốn cầu ra thực khó thể được.

– Năm trăm kỹ nữ này cũng dùng để mua mạng bà.

– Đây cũng khó được.

Nếu những kỹ nữ này chẳng thể được, thì sẽ dùng cái khác mua bà.

– Đây cũng khó được.

Nếu điều này không được, sẽ dùng năm trăm trân bảo mua bà.

Đây cũng khó được.

– Đây không thể được thì dùng năm trăm y phục mua bà.

– Đây cũng khó được.

– Nếu áo quần này không được thì dùng năm trăm Phạm chí này chú thuật, dùng chú thuật để giữ bà.

Đây cũng khó được.

– Nếu năm trăm Phạm chí này không được thì sẽ lại đem năm trăm Sa-môn cao tài thuyết pháp để mua bà.

– Đây chẳng thể được.

– Nếu thuyết pháp không được, sẽ tụ tập binh lính cùng chiến đấu lớn để giữ.

– Đây là cách của người ngu, đã rơi vào miệng cá ma-kiệt, trọn chẳng ra được. Ông nên biết, có ai sanh mà không chết đâu?

– Đây thực chẳng thể được.

– Thực chẳng thể được. Chư Phật cũng dạy rằng: Hễ có sanh thì có tử, mạng cũng khó được.

Khi ấy, Bất-xà-mật quỳ tâu vua:

– Thế nên Đại vương, chớ quá sầu lo. Tất cả chúng sanh đều trở về với cái chết.

Vua hỏi:

– Cớ sao ta lại sầu lo?

Đại thần tâu:

– Vua nên biết, hôm nay mẹ của Đại vương đã chết.

Vua Ba-tư-nặc nghe xong, thở dài tám, chín cái, rồi bảo đại thần:

– Lành thay! Như lời ông nói, ông hay biết dùng phương tiện khéo léo!

Để an vui, người con Phật hằng quán sát vô thường là đặc tính của thế gian. Trong vũ trụ này, chỉ có sự vô thường mới thực sự thường hằng. Ảnh minh họa.

Rồi vua Ba-tư-nặc trở vào thành bày các thứ hương hoa cúng dường vong mẫu. Cúng xong nhà vua liền lên xe đến chỗ Thế Tôn, đến nơi, cúi lạy rồi ngồi một bên. Bấy giờ, Thế Tôn hỏi:

– Đại vương! Cớ sao người lấm bụi đất?

Vua bạch Thế Tôn:

– Mẹ con mạng chung, vừa đưa đến ngoài thành. Nay con đến Thế Tôn để hỏi lý do. Mẹ con lúc còn sống, trì trai tinh tấn, hằng tu pháp lành, vừa đúng trăm tuổi, hôm nay đã mạng chung, nên con đến chỗ Thế Tôn. Nếu con có thể đem voi mua mạng mẹ được, con cũng sẽ dùng voi để mua. Nếu đem ngựa mua mạng được, con sẽ dùng ngựa để mua. Nếu dùng xe cộ mua được mạng, con sẽ dùng xe cộ để mua. Nếu lấy vàng bạc, trân bảo mua được mạng, con sẽ dùng vàng bạc, trân bảo để mua. Nếu lấy nô tỳ, tôi tớ, thành quách, đất nước để mua mạng được, con sẽ đem thành quách, đất nước để mua mạng. Nếu đem nhân dân nước Ca-thi mua mạng được, con sẽ đem nhân dân Ca-thi để mua, chẳng để cho mẹ con mạng chung.

Thế Tôn bảo:

– Này Đại vương, chớ sầu lo quá, tất cả chúng sanh đều trở về cái chết. Tất cả pháp biến đổi, muốn cho không biến đổi, trọn không có việc này. Đại vương nên biết, thân người như tuyết đọng, rồi sẽ trở về tan hoại. Cũng như ngói đất sẽ tan hoại không thể giữ lâu; cũng như sóng nắng huyễn hóa, hư ngụy không thật; cũng như nắm tay không thể gạt con nít. Thế nên, Đại vương chớ âu sầu, trông cậy thân này. Đại vương nên biết, có bốn điều rất sợ hãi sẽ đến với thân này, chẳng thể che chở, cũng chẳng thể lấy ngôn ngữ, chú thuật, dược thảo, phù thư có thể khử trừ. Bốn điều đó là: Già làm bại hoại tuổi trẻ khiến không nhan sắc; bệnh làm bại hoại tất cả người không bệnh; chết làm bại hoại mạng căn; vật hữu thường trở về vô thường.

Đại vương, có bốn pháp này chẳng thể che chở, không phải dùng sức hàng phục được. Đại vương nên biết, ví như bốn phương có bốn núi lớn, từ bốn phía đến ép chúng sanh, chẳng phải sức trừ đi được. Thế nên, Đại vương, đó chẳng phải là vật kiên cố, chẳng thể nương cậy. Do vậy, Đại vương, nên lấy pháp trị vì, chớ dùng phi pháp. Đại vương cũng chẳng bao lâu sẽ đến biển sanh tử. Đại vương cũng nên biết, những người lấy pháp cai trị, khi thân hoại mạng chung, sanh lên cõi trời, chỗ lành. Nếu người dùng phi pháp cai trị, thân hoại mạng chung đọa trong địa ngục. Thế nên, Đại vương, hãy lấy pháp cai trị, chớ dùng phi pháp. Như thế, Đại vương, nên học điều này!

Bấy giờ vua Ba-tư-nặc bạch Phật:

– Pháp này tên là gì? Sẽ vâng làm như thế nào?

Thế Tôn dạy:

– Pháp này gọi là pháp trừ sầu lo.

Vua bạch Phật:

– Thực vậy, bạch Thế Tôn. Sở dĩ như vậy vì con nghe pháp này rồi, bao nhiêu sầu lo hôm nay đã trừ. Bạch Thế Tôn, việc nước bề bộn, nay con muốn trở về cung.

Thế Tôn bảo:

– Nên biết đúng thời.

Vua Ba-tư-nặc liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và lui đi.

Bấy giờ vua Ba-tư-nặc nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm 26.Tứ ý đoạn [1], VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.584)

Thế nên, khuyến khích cha mẹ hiện tiền bỏ ác làm lành, tu tập theo Chánh pháp để luôn được an vui mới là chơn chánh hiếu đạo và cũng là cách báo hiếu trọn vẹn nhất. Ảnh minh họa.

Pháp thoại này cho thấy, mạng người mong manh, có sinh ắt có tử, không ai có thể đảo ngược quy trình tất yếu này. Kể cả bậc đại vương hùng mạnh, quyền uy tột đỉnh, thương kính mẹ hết lòng như vua Ba-tư-nặc cũng đành bất lực trước quy luật tử sinh. Sở dĩ Thế Tôn không dạy vua Ba-tư-nặc pháp cầu siêu cho mẹ vì bà ấy chỉ ra đi mà không chết. Thực sự thì mọi người đều không chết, luôn luôn sống. Bỏ thân này thì liền theo nghiệp thọ thân khác nên làm gì có chết mà cầu siêu! Thành ra, khi đang sống trên đời, ta cầu nguyện cho người bình an. Khi họ bỏ thân này theo nghiệp thọ sinh một nơi khác, ta vẫn tiếp tục mong cho họ bình an. Vì lẽ ấy mà Thế Tôn chỉ có dạy cầu an.

Để an vui, người con Phật hằng quán sát vô thường là đặc tính của thế gian. Trong vũ trụ này, chỉ có sự vô thường mới thực sự thường hằng. Nói cách khác là không hề có sự vĩnh cửu, thường hằng. Đây là tuệ giác lớn mà chúng sinh cần có để vượt ra khỏi khổ. Khi người thân mất đi, điều này phù hợp với quy luật vô thường. Chúng ta sầu lo, đau khổ nhiều vì muốn nắm giữ điều không thể. Thế Tôn từng nhấn mạnh: “Tất cả pháp biến đổi, muốn cho không biến đổi, trọn không có việc này”. Không chỉ người ở lại, người ra đi (chết) cũng rất cần tuệ giác vô thường soi sáng. Chấp thủ thân ta (ngã), tài vật của ta (ngã sở) là nguồn gốc của đọa lạc. Thấy rõ vô thường mới xả buông, xả buông được thì sớm thăng hoa siêu thoát.

Mặt khác, khi đã chấp nhận sự thật vô thường của thế gian, người con Phật hãy tích cực tạo nghiệp lành để luôn được hiện đời an lành, đời sau cũng sinh cõi lành. Thế Tôn dạy vua Ba-tư-nặc thực hành Chánh pháp và xa rời phi pháp để ‘Nay vui đời sau vui/Làm phước, hai đời vui’ là vì vậy. Thành ra, pháp ‘trừ sầu lo’ của Thế Tôn vừa có tác dụng cầu an lẫn cầu siêu.

Hiện nay, chúng ta thường khuyến khích thân nhân thực hành nhiều thiện pháp như bố thí, cúng dường để hồi hướng công đức cầu siêu cho người thân quá vãng. Nhưng chắc chắn việc vì cha mẹ làm thiện sẽ không bằng tự thân cha mẹ thực hành Chánh pháp, biết ‘Tự mình thắp đuốc lên mà đi’. Thế nên, khuyến khích cha mẹ hiện tiền bỏ ác làm lành, tu tập theo Chánh pháp để luôn được an vui mới là chơn chánh hiếu đạo và cũng là cách báo hiếu trọn vẹn nhất.

Phật Học

Lời Phật dạy: Hãy cúng dường cha mẹ

Mùa Vu lan về, mọi người con Phật lại thêm một lần suy ngẫm sâu hơn về thâm ân sinh thành dưỡng dục của cha mẹ để lo báo đền. Hiếu tâm, hiếu kính, hiếu dưỡng, hiếu thuận… là những đức tính và công hạnh quý báu của người con Phật. Dĩ nhiên, không phải […]
37

Mùa Vu lan về, mọi người con Phật lại thêm một lần suy ngẫm sâu hơn về thâm ân sinh thành dưỡng dục của cha mẹ để lo báo đền. Hiếu tâm, hiếu kính, hiếu dưỡng, hiếu thuận… là những đức tính và công hạnh quý báu của người con Phật.

Dĩ nhiên, không phải ai cũng hội đủ duyên lành để trọn hiếu nhưng chí ít, chúng ta phải luôn tâm niệm về chữ hiếu, đau đáu trong lòng để tìm cách thể hiện.

Chữ hiếu thật lớn lao, bởi ‘Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”. Trong vô vàn diệu nghĩa của chữ hiếu, có người làm được phương diện này, người khác lại làm được ở phương diện kia. Tùy nhân duyên, hoàn cảnh cụ thể của mỗi người, mỗi nhà mà thực hành hạnh hiếu. Quan trọng là, cần phải xác định đâu là cốt tủy, là tinh túy của chữ hiếu để phụng hành. Bởi có khi, chúng ta có duyên lành làm được phần chính yếu của chữ hiếu mà lại không hay.

Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp cho mẹ đắc Sơ quả.

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

Dạy hai người làm lành, không thể báo ân được. Thế nào là hai? Nghĩa là cha, mẹ.

Này Tỳ-kheo, nếu lại có người, vai phải cõng cha, vai trái cõng mẹ đến ngàn vạn năm, lo y phục, thức ăn, giường nằm, thuốc men trị bệnh, dù cha mẹ tiểu tiện, đại tiện ở trên vai, người ấy vẫn chẳng thể báo ân được. Tỳ-kheo nên biết, cha mẹ ân nặng, bồng ẵm, nuôi nấng, tùy lúc gìn giữ chẳng lỡ thời tiết như được thấy mặt trời, mặt trăng. Dùng phương tiện này, biết ân này, khó báo. Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy cúng dường cha mẹ, thường nên hiếu thuận, chẳng lỡ thời tiết. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm 20.Thiện tri thức, VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.349).

Thật rõ ràng, công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ bao la như trời biển, phận làm con thật khó đáp đền. Xem cha mẹ hiện còn như Phật (Phụ mẫu tại đường như Phật tại thế) nên trước phải lo cúng dường. Cúng dường hay phụng dưỡng cha mẹ là nền tảng căn bản nhất của chữ hiếu. Kế đó là kính và thuận thuộc phương diện tinh thần, tìm cách làm cho cha mẹ an tâm, vui vẻ, đẹp lòng. Phật dạy: ‘Hãy cúng dường cha mẹ, thường nên hiếu thuận, chẳng lỡ thời tiết’.

Hiếu thảo với cha mẹ, giúp cha mẹ có một tuổi già hạnh phúc, ít bệnh tật và ra đi trong bình an quả thật là điều khó làm; phải hội đủ nhiều phước duyên thì con cái mới làm được. Điều đáng lưu tâm là, Đức Phật vẫn chưa cho phép người con hiếu thảo an phận nơi đây, tự mãn với hạnh hiếu mà mình đã làm được. Ngài vẫn luôn răn nhắc là đối với cha mẹ thì ‘không thể báo ân’. Vì sao? Vì điều đó chỉ giúp cha mẹ an vui trong hiện đời. Trong khi tiêu chí của Đức Phật phải là ‘Nay vui đời sau vui’. Đây mới là vấn đề!

Mong rằng những người thân yêu của chúng ta hiện đời cũng như đời sau luôn được an vui. Đây chính là tâm hiếu và hạnh hiếu đích thực của người con Phật.

Thành ra, nếu chúng ta nhờ duyên phước đủ đầy, phụng dưỡng và kính thuận cha mẹ trọn vẹn, mà cha mẹ ta lại biết kính tin Tam bảo, siêng năng tích phước tu hành thì gia đình đại phước. Chắc chắn cha mẹ chúng ta ‘Nay vui đời sau vui/Làm phước hai đời vui’ (PC.16). Đây mới là chí hiếu, trọn hiếu theo lời Phật dạy. Nhược bằng chúng ta hiếu thảo mà cha mẹ vẫn chìu theo tập nghiệp, chưa biết nương theo Tam bảo để chuyển tâm hướng thiện, thì đời này tuy cha mẹ có an ổn nhưng đời sau thì chưa biết sẽ về đâu.

Ngay đây, người con Phật trọn hiếu phải tìm mọi cách để tạo hành trang thiện lành cho cha mẹ đủ tư lương mà bước vào thiện giới. Kinh văn nói: ‘Dạy cha mẹ làm lành’ có nghĩa hướng cha mẹ về các điều thiện lành như quy y, giữ giới, làm phước, tha thứ, hỷ xả…hay hơn nữa là tin nhân quả, nhân duyên, thành tựu chánh tri kiến. Đã là cha mẹ con cái của nhau hẳn có nhân duyên từ nhiều đời. Mong rằng những người thân yêu của chúng ta hiện đời cũng như đời sau luôn được an vui. Đây chính là tâm hiếu và hạnh hiếu đích thực của người con Phật.

Phật Học

Nghe theo lời Phật để hạnh phúc hơn mỗi ngày

Hạnh phúc là thứ con người luôn tìm kiếm trong cuộc đời này. Nhưng ít ai thực sự hiểu ý nghĩa đích thực của nó. Hạnh phúc thực sự chỉ đến khi người ta từ bỏ được tâm tham sân si, nhận thức và làm chủ được bản thân mình. Phân loại những nhóm người […]
15

Hạnh phúc là thứ con người luôn tìm kiếm trong cuộc đời này. Nhưng ít ai thực sự hiểu ý nghĩa đích thực của nó. Hạnh phúc thực sự chỉ đến khi người ta từ bỏ được tâm tham sân si, nhận thức và làm chủ được bản thân mình.

Phân loại những nhóm người hạnh phúc trong xã hội

Nhóm người an phận

Đây là những người biết hài lòng về cuộc sống của mình. Họ không mưu cầu những thứ cao sang ngoài tầm tay với. Đối với họ, hạnh phúc là được sống mạnh khỏe bên gia đình và người thân. Họ chấp nhận một cuộc sống giản dị, một công việc bình thường và âm thầm cống hiến cho cuộc đời.

Nhóm ước vọng

Đây là những người có hoài bão, có tri thức. Họ có địa vị, tiền bạc, có được thứ những người khác đều ao ước trong cuộc đời. Hạnh phúc đối với họ là hoàn thành được những mục tiêu, cháy với đam mê. Để rồi họ có thể tận hưởng cuộc sống từ các giá trị họ đã tạo ra.

Nhóm thoát tục

Đây là những người muốn cách ly khỏi cuộc sống hồng trần đầy đau khổ. Họ đã lãnh ngộ được chân lý cuộc đời và đi tìm con đường thoát khỏi vòng xoay của luân hồi. Hạnh phúc của họ là được thanh thản tu tập, hòa nhập với thiên nhiên. họ không còn vướng bận tham ái không còn si mê và có trí tuệ vô cùng.

Hạnh phúc của những người thoát tục là được thanh thản tu tập, hòa nhập với thiên nhiên

Quan niệm của Phật giáo về hạnh phúc

Theo Phật giáo, hạnh phúc thực sự chỉ đến khi người ta từ bỏ được tâm tham sân si, nhận thức và làm chủ được bản thân mình. Khi ấy, con người sẽ đạt được cảnh giới Niết Bàn và hạnh phúc ngay trong cõi đời này.

Niết Bàn trong quan niệm Phật giáo không phải là thứ quá xa vời để đạt tới. Niết bàn có sẵn trong tâm khảm mọi người. Phật pháp chỉ là một ngọn đuốc soi đường cho chúng ta đi đến chốn bình an thực sự.

Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng đã viết: “ Tự mình tu, tự mình hành, thấy Pháp Thân của mình, thấy Phật ở Tự Tâm mình, độ lấy mình mới được”. Như vậy, con đường đi đến Niết Bàn là con đường ta có thể dựa vào sức mình mà đi. Chúng ta không nên mong cầu nó ở bất cứ tha lực nào, cũng không cần thèm khát và bất chấp chạy theo nó.

Thanh tịnh, và giản đơn là đôi cánh của sự thăng hoa

15 lời Phật dạy để sống hạnh phúc

1. Quá khứ dù tồi tệ đến đâu, ta vẫn có thể làm lại từ đầu.

2. Ngày hôm nay là ngày quan trọng nhất. Mỗi buổi sáng thức dậy hãy cứ mỉm cười.

3. Có được thân thể khỏe mạnh chính là phước báu. Hãy trân trọng từng phút giây của cuộc đời.

4. Một người là kết quả của những gì anh ta suy nghĩ. Hãy nuôi dưỡng sự thanh tịnh, hạnh phúc tự sẽ đuổi theo mình.

5. Thanh tịnh, và giản đơn là đôi cánh của sự thăng hoa.

6. Tâm của bạn là tên lừa gạt đáng sợ nhất. Người khác chỉ gạt bạt phút giây, nhưng nó sẽ lừa bạn cả đời.

7. Thù hận giống như than đỏ, nếu nắm chặt nó ta sẽ bị bỏng trước khi ném cho người khác.

8. Người không tham ái thì không mong cầu, không mong cầu thì sẽ không sợ hãi.

9. Người có trí thì vững như bàn thạch. Họ không bị chi phối bởi giông bão của những nhận xét khen chê.

10. Thứ không thuộc về mình thì đừng cố chấp. Đôi lúc buông xả mới là hạnh phúc của cuộc đời.

11. Tâm bám chấp là nguồn gốc của khổ đau.

12. Vạn pháp thế gian vốn dĩ vô thường. Niềm vui và nỗi đau dù lớn đến đâu cũng không tồn tại mãi.

13. Nếu không nhận ra và biết ơn những thứ mình đang có. Bạn sẽ chẳng bao giờ tìm được hạnh phúc đích thực.

14. Hãy cẩn trọng trong suy nghĩ, lời nói và hành động của mình. Nhân quả không chừa bất cứ một ai.

15. Một đốm lửa có thể thiêu đốt cả một khu rừng. Một con rắn nhỏ có thể khiến ta mất mạng. Đừng nghĩ có thể xem thường những điều nhỏ bé.

Minh An – Theo PhatGiao.Org.Vn

Phật Học

Phật dạy: Nhìn nước để thấy người

Chúng ta ai cũng đã từng có lần đứng trước biển cả mênh mông. Khi ấy, ta thấy mình thật nhỏ bé so với sóng nước bao la, biển hồ lai láng. Thường thì mỗi người có một tâm sự khác nhau, riêng người học Phật, biển nước kia cũng là một đối tượng để […]
37

Chúng ta ai cũng đã từng có lần đứng trước biển cả mênh mông. Khi ấy, ta thấy mình thật nhỏ bé so với sóng nước bao la, biển hồ lai láng. Thường thì mỗi người có một tâm sự khác nhau, riêng người học Phật, biển nước kia cũng là một đối tượng để quán niệm. Nhìn nước thấy người, nhất là thấy mình.

Điều đáng lưu tâm nhất là, để chứng đạt những Thánh quả này, Thế Tôn thiết tha căn dặn “Hãy nhớ tọa thiền chớ có lười biếng”.

Bước xuống nước cũng như bước vào cuộc đời. Người không biết bơi thì chìm nghĩm. Người tập bơi thì hãy dè chừng vì cố ngoi lên cũng bị chìm xuống. Hai hạng người này thật nguy vì nước vốn chẳng hiền. Chỉ có những hạng người đứng được trên sóng nước mới tạm yên. Ai vượt qua bờ kia mới thực sự an toàn, thảnh thơi nhất.

“Một thời, Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta sẽ nói bảy thí dụ về nước. Người cũng như thế. Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ về chúng.

Các Tỳ-kheo đáp: Xin vâng, Thế Tôn!

Thế Tôn bảo: Bảy thí dụ về nước giống như người thế nào? Ví như, có người chìm ở đáy nước; có người tạm ngoi lên mặt nước rồi chìm xuống lại; có người ra khỏi nước nhìn xem; có người ra khỏi nước mà đứng; có người muốn đi qua nước; có người ra khỏi nước muốn đến bờ kia; có người đã lên hẳn trên bờ. Đó là, này Tỳ-kheo, có bảy thí dụ về nước xuất hiện ở đời.

Thế nào là người chìm đáy nước không ra khỏi được? Ở đây, có người toàn thân hành pháp bất thiện, trải qua kiếp số không thể trị liệu. Đó là người chìm ở đáy nước.

Thế nào là người ra khỏi nước rồi chìm lại? Ở đây, có người lòng tin cạn cợt, tuy có pháp lành mà không kiên cố. Người ấy thân, miệng, ý làm lành, sau lại hành bất thiện. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào địa ngục. Đó là người ra khỏi nước lại chìm.

Thế nào là người ra khỏi mặt nước nhìn trông? Ở đây, có người có tín thiện căn, thân, miệng, ý làm lành nhưng không tăng trưởng pháp này, tự giữ đứng. Người ấy thân hoại mạng chung sanh trong A-tu-la. Đó là người ra khỏi nước nhìn.

Thế nào là người ra khỏi nước mà đứng? Ở đây, có người có lòng tin, tinh tấn đoạn ba kiết sử, không thối chuyển nữa, chắc chắn đạt được cứu cánh thành đạo Vô thượng. Đó là người ra khỏi nước mà đứng.

Thế nào là người muốn đi qua nước? Ở đây, có người tín căn tinh tấn, hằng ôm lòng hổ thẹn, mong đoạn ba kiết sử dâm, nộ, si. Người ấy trở lại đời này mà đoạn dứt mé khổ. Đó là người muốn qua nước.

Thế nào là người muốn đến bờ kia? Ở đây, có người tín căn tinh tấn, đoạn năm hạ phần kiết sử, thành A-na-hàm, liền đó nhập Niết-bàn, không trở lại đời này nữa. Đó là người muốn đến bờ kia.

Thế nào là người đã đến bờ kia? Ở đây, hoặc có người tín căn tinh tấn, ôm lòng hổ thẹn, dứt hết hữu lậu, thành tựu vô lậu. Ở trong hiện pháp, người ấy tự an vui; sanh tử đã dứt, Phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn tái sanh, như thật mà biết; nơi Vô dư Niết-bàn mà nhập Niết-bàn. Đó là người đã qua đến bờ kia.

Này Tỳ-kheo! Đó là bảy thí dụ nước và người, Ta nói với các thầy. Chỗ chư Phật Thế Tôn đáng tu hành tiếp độ mọi người, nay Ta đã thi hành. Các thầy nên ở chỗ vắng vẻ, như dưới cội cây, hãy nhớ tọa thiền chớ có lười biếng. Đây là lời Ta dạy dỗ.

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập II, phẩm 39.Đẳng pháp, VNCPHVN ấn hành, 1998, tr.490).

Ảnh minh họa.

Thế Tôn đã đưa ra “bảy thí dụ nước và người”. Thứ nhất, bước xuống nước mà chìm là hạng người cả đời làm ác. Dĩ nhiên, quả báo địa ngục luôn dành cho hạng người này. Thứ hai là hạng cố ngoi lên rồi lại chìm xuống. Chúng ta từng có lần thức tỉnh, quyết chí vươn lên, tập tành hướng thiện. Nhưng rồi vì nghiệp lực, vì hoàn cảnh, vì yếu đuối, nhất là chưa đủ lòng tin để quyết tâm nên rồi ngựa quen đường cũ, đau khổ vẫn hoàn khổ đau. Thứ ba là hạng người nổi trên nước rồi nhưng chỉ nhìn quanh. Họ có căn lành nhưng chưa có ý bước ra khỏi dòng sinh tử.

Chỉ có bốn hạng sau cùng, tuy vẫn ở trong nước nhưng đã thấy bờ, quyết chí lên bờ và đã sang đến bờ kia. Đó là những người con Phật trọn vẹn niềm kính tin Tam bảo, quyết tâm đoạn tận mười kiết sử (Hạ phần: thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục và sân / Thượng phần: hữu ái, vô hữu ái, mạn, trạo cử và vô minh) để thành tựu các Thánh quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán.

Điều đáng lưu tâm nhất là, để chứng đạt những Thánh quả này, Thế Tôn thiết tha căn dặn “Hãy nhớ tọa thiền chớ có lười biếng”.

 

 

 

Phật Học

Tin lời Phật dạy giúp ta chuyển hóa nỗi khổ niềm đau bằng chánh tín nhân quả

Ta tin những lời dạy vàng ngọc của Phật, tức là ta thực hành lý nhân quả-luân hồi-nhân duyên để áp dụng vào trong đời sống hằng ngày. Muốn được quả tốt thì ta phải tạo nhân tốt và những duyên phụ thuộc cũng phải tốt mới được. Ta tin những lời dạy vàng ngọc […]
14

Ta tin những lời dạy vàng ngọc của Phật, tức là ta thực hành lý nhân quả-luân hồi-nhân duyên để áp dụng vào trong đời sống hằng ngày. Muốn được quả tốt thì ta phải tạo nhân tốt và những duyên phụ thuộc cũng phải tốt mới được.

Ta tin những lời dạy vàng ngọc của Phật, tức là ta thực hành lý nhân quả-luân hồi-nhân duyên để áp dụng vào trong đời sống hằng ngày.

Ta tin những lời dạy vàng ngọc của Phật, tức là ta thực hành lý nhân quả-luân hồi-nhân duyên để áp dụng vào trong đời sống hằng ngày. Muốn được quả tốt thì ta phải tạo nhân tốt và những duyên phụ thuộc cũng phải tốt mới được. Từ lý nhân quả này, chúng ta xét thấy mọi việc trên thế gian không có gì xảy ra bỗng dưng khi không mà có được. Chúng ta phải đi từ nhân tới quả bằng sự quán chiếu và nghiệm xét. Nhân mình làm tốt thì quả tốt, nhân mình làm xấu thì quả xấu. Biết được nhân quả phù hợp với đạo lý làm người rồi, chúng ta phải quyết tâm cố gắng ngăn ngừa từ nhân, không cho nhân xấu phát sinh. Ta đã không tạo nhân xấu mà biết tìm cách phát huy tạo nhân tốt, đó là người Phật tử chân chính.

Như chúng ta thường thấy, “gieo nhân thì gặt quả” như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Người làm nghề nông chon lựa giống tốt, chuẩn bị cày bừa thì phải làm sạch cỏ dại, rồi mới phân nước đầy đủ, chờ khi thời tiết thuận lợi mới có thể gieo giống. Bởi giống tốt và siêng năng chăm sóc đúng kỹ thuật nên cây lúa tốt tươi, bông lúa nặng trĩu, nhiều hạt, và cuối cùng là thu hoạch một mùa bội thu.

Như có anh nông dân kia sau thời cuốc ruộng mệt nhọc, anh vào ngồi nghỉ dưới gốc cây, vô tình có một con thỏ bị con thú lớn rượt đuổi nên hoảng hồn chạy thụt mạng, đâm sầm vào gốc cây chết liền tại chỗ. Anh nông dân mừng quá, nghĩ rằng từ nay về sau khỏi cần làm ruộng, cứ mỗi ngày ra đây ngồi chờ con thỏ đến nộp mạng. Đây là quan niệm của những kẻ lười biếng muốn ăn không ngồi rồi mà hưởng thụ. Họ nghĩ rằng tất cả đều là ngẫu nhiên khi không nên sinh ra tư tưởng không muốn làm mà muốn có ăn; như anh chàng nông dân kia thay vì tin sâu nhân quả, muốn trúng mùa lúa bội thu thì trước tiên phải lựa giống tốt, sau đó cuốc ruộng, phơi đất, vô nước, bón phân, chăm sóc theo quy trình kỹ thuật làm ruộng, cộng với thời tiết, nhân duyên thuận lợi thì chắc chắn sẽ trúng mùa. Nếu chúng ta cứ mỗi ngày ra ngoài bờ ruộng, chắp tay nguyện Phật trời cho con mùa này trúng lúa mà không chịu làm gì hết như anh nông dân trên thì thật là điều vô lý hết sức.

Tất cả quý Phật tử khi nghe lời Phật dạy đã hiểu rồi thì ráng cố gắng chọn lựa nhân tốt để làm, nhân xấu loại ra, bất cứ làm việc gì chúng ta cũng lấy nhân quả làm nền tảng thì lợi ích vô cùng.

Ta không chịu gieo giống, tạo nhân duyên đầy đủ về mọi phương diện mà đòi có quả trọn vẹn, tốt đẹp thì không bao giờ có được. Đó là lẽ thật. Người thông minh, sáng suốt biết siêng năng, cần cù trong mọi công việc, biết chọn nhân tốt để gầy dựng tương lai và sự nghiệp cho gia đình được kết quả trọn vẹn trong hiện tại và mai sau. Ngược lại, người không biết tu tạo phước đức, thường hay tạo nhân xấu ác thì quả xấu sẽ đến như người trộm cướp sẽ bị bắt và chịu tù tội. Tất cả quý Phật tử khi nghe lời Phật dạy đã hiểu rồi thì ráng cố gắng chọn lựa nhân tốt để làm, nhân xấu loại ra, bất cứ làm việc gì chúng ta cũng lấy nhân quả làm nền tảng thì lợi ích vô cùng.

Thế gian có nhiều người gây nhân mà không dám chịu quả; như trong nhà có nhiều anh chị em mà ta lỡ tay làm bể cái chén quý của mẹ, do không dám nhận lỗi nên khi cha mẹ tra hỏi ta đổ thừa không biết. Cuối cùng, mẹ phải bắt tất cả anh chị em trong nhà ra điều tra, mấy đứa kia đâu có làm bể nên chúng nói không biết. Mẹ giận quá phải đánh đòn hết để điều tra ra sự việc coi ai làm bể. Chúng ta đã lỡ tạo nhân thì phải can đảm chịu quả, nhận lỗi lầm về mình do sơ xót làm bể, “dạ thưa mẹ, đây là lỗi của con, con lỡ như vậy, xin mẹ thương mà tha thứ bỏ qua cho con”. Ta biết nhận lỗi như vậy thì mẹ nào lại chẳng thương yêu, tha thứ. Ta khỏi làm phiền hà khiến anh chị em bị đòn oan.

Thế cho nên, người biết tin sâu nhân quả và dám chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình là người sống có nhân cách và phẩm chất đạo đức tốt. Người nào không tin nhân quả là người yếu đuối, hèn nhát, không có hiểu biết và nhận thức đúng đắn, nên sống càn, sống dở, làm tổn hại cho gia đình, người thân và xã hội.Kế đến ta tin con người sau khi chết không phải là hết mà chỉ thay hình, đổi dạng tuỳ theo nghiệp nhân gieo tạo tốt-xấu của mình. Ta tin có tái sinh, luân hồi thì càng làm mình thêm dè dặt hơn để trong đời sống như thế nào cho phải đạo làm người; bởi ai cũng muốn đời sống sau được bình yên, hạnh phúc, có tất cả tiền tài, danh vọng, nên phải giữ gìn 5 điều đạo đức, là chuẩn mực thước đo lòng người trong hiện tại và mai sau: Không sát sanh hại vật; không gian tham trộm cướp, lường gạt của ai; không tà dâm phi pháp; không nói dối hại người; không uống rượu say và hút chích xì ke, ma túy.

Chúng ta nhờ tin lời Phật dạy nên quyết tâm ứng dụng và hành trì thì kết quả mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cuộc sống. Qua đó, chúng ta mới thấy lời Phật dạy là chân lý nhiệm mầu luôn giúp cho mọi người biết sống yêu thương nhau bằng tình người trong cuộc sống.

Ai giữ được 5 điều trên thì bảo đảm đời sau được sinh trở lại làm người có nhân cách và phẩm chất tốt đẹp. Chúng ta tu để chuyển hoá nỗi khổ, niềm đau thành được an vui, hạnh phúc, làm tròn trách nhiệm bộn phận đối với gia đình, người thân và phục vụ lợi ích cho xã hội. Người không sát sanh hại vật thì đời sau sống thọ và ít bị bệnh hoạn. Người không gian tham trộm cướp thì đời sau không bị ai lấy cắp, lường gạt. Người không tà dâm thì đời sau sẽ đẹp đẽ, đoan chính, trang nghiêm, ai thấy cũng mến thương. Người không nói dối hại người thì đời sau nói năng lưu loát, nói ra mọi người đều tin theo, không bị ai nghi ngờ. Người không uống rượu say, không hút chích xì ke, ma túy thì đời sau sanh ra thông minh, sáng suốt, trí tuệ đầy đủ.

Như chúng ta đã thấy, chỉ cần tin sâu nhân quả và giữ giới đầy đủ, trọn vẹn thì ta sẽ có một tương lai tốt đẹp mà khỏi cần phải cầu khẩn, van xin một ai. Những ai không tin sâu nhân quả và kiếp luân hồi tái sinh thì đâu có biết tu, nên đời sau họ sẽ đau khổ, lầm mê.Một người biết giữ gìn 5 giới và tất cả mọi người đều giữ giới thì thế gian này sẽ là thiên đường của hạnh phúc, làm gì có chiến tranh, binh đao tàn sát, giết hại lẫn nhau. Nhà nào có người bị vướng vào tệ nạn xã hội thì trộm cướp hoặc rượu chè be bét, hút chích xì ke, ma túy thì đó là họa lớn làm tổn hại cho mình và người.

Cho nên, người Phật tử chân chính sẽ không làm phiền luỵ đến một ai mà con đem lại hạnh phúc cho gia đình, người thân và giữ gìn tốt an ninh trật tự cho xã hội. Chúng ta nhờ tin lời Phật dạy nên quyết tâm ứng dụng và hành trì thì kết quả mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cuộc sống. Qua đó, chúng ta mới thấy lời Phật dạy là chân lý nhiệm mầu luôn giúp cho mọi người biết sống yêu thương nhau bằng tình người trong cuộc sống.

 

 

Phật Học

Lời Phật dạy: Nghiệp tốt do mình tạo, không phải sức thiêng liêng nào ban

Nhận xét chân chính là căn bản của trí tuệ. Người Phật tử nhận xét sự vật trong vũ trụ theo hai chiều nhân quả và nhân duyên, để đi đến thấu triệt lý lẽ nhân quả, nhân duyên… Vạn vật thành bại, hư nên, tốt xấu… đều theo định luật nhân quả. Như muốn có […]
18

Nhận xét chân chính là căn bản của trí tuệ. Người Phật tử nhận xét sự vật trong vũ trụ theo hai chiều nhân quả và nhân duyên, để đi đến thấu triệt lý lẽ nhân quả, nhân duyên…

Vạn vật thành bại, hư nên, tốt xấu… đều theo định luật nhân quả. Như muốn có lúa ta phải gieo hạt lúa, vun phân xới đất làm cỏ, mưa, nắng, sương và chăm sóc, ngăn ngừa sâu bọ là những điều kiện phụ trợ. Có đủ những điều kiện ấy, trải qua một thời gian, sẽ được những bông lúa. Từ nhân hạt lúa, đến quả nhiều bông lúa, bản thân cây lúa có đủ những yếu tố bổ trợ và phá hoại, chứ không đơn giản cứ có hạt lúa sẽ có bông lúa.

Thuyết nhân quả gồm có chánh nhân, trợ nhân, nghịch nhân. Hạt lúa đem ra gieo là chánh nhân, phân, đất, nước… là trợ nhân; mưa, nắng, thuận mùa là thuận nhân; sâu bọ, nắng hạn, bão lụt là nghịch nhân. Nhân quả liên chuyền cả ba thời: Quá khứ, hiện tại, vị lai.

Chung hợp nhân duyên

Người hiểu rõ lý nhân quả áp dụng vào sự tu tập bản thân sẽ được những đức tính tốt: Can đảm không kêu than oán trách, khi gặp cảnh khổ đến với mình vì biết do nhân mình đã tạo trong hiện tại, hoặc quá khứ còn thừa.

Không một vật nào tự nó hình thành, mà phải do nhiều nhân duyên chung hợp; muôn vật trong vũ trụ đều liên hệ nương nhờ nhau, “cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không”. Cái nhà không tự có, sở dĩ có là nhờ cây, gạch, ngói, xi-măng, sắt, cát… nếu một trong những điều kiện quan trọng ấy thiếu, cái nhà khó thành tựu.

Người hiểu rõ lý nhân quả áp dụng vào sự tu tập bản thân sẽ được những đức tính tốt: Can đảm không kêu than oán trách, khi gặp cảnh khổ đến với mình vì biết do nhân mình đã tạo trong hiện tại, hoặc quá khứ còn thừa.

Sẽ dũng tiến tu thiện, vì biết gieo nhân lành sẽ được hưởng quả lành. Sẽ cẩn thận khi sắp làm, sắp nói, vì sợ gây nhân xấu sau chịu quả xấu. Sẽ không ỷ lại, vì biết mọi việc do mình tạo nhân, mình hưởng quả không phải sức thiêng liêng nào ban. Và sẽ không kiêu căng trong cảnh giàu sang, vì biết nhờ nhân lành đời trước nếu khởi hành động xấu sau này sẽ chịu quả khổ.

Người đạt được lý nhân duyên đối với xã hội có nhiều ý niệm hay: Không ích kỷ, vì biết mình và người tương quan nhau, người khổ tức mình khổ; Không chán ghét xã hội muốn trốn tránh, vì biết mình không thể ly khai xã hội được; Tích cực lợi tha, vì biết người tốt là mình tốt; Không quá khổ đau khi thấy sự hoại diệt, vì biết có hợp phải có tan.

Biết nhận xét và áp dụng lý nhân quả, Nhân duyên như vậy là người có trí tuệ tự tạo cho mình một cuộc sống linh hoạt hợp lý.

Tự giác, giác tha

Phật tử cố gắng cảm hóa gia đình không phải là độc tài, cái gì mình theo bắt trong gia đình phải theo, mà vì muốn đem lại tình thương và hạnh phúc cho gia đình.

Lý nhân duyên cho thấy trong vũ trụ không có một vật nào đơn độc tự sống; đã có sống tức liên hệ nhau, giữa mình và mọi người, mình và vạn vật. Bởi thế, người Phật tử phải vừa tự tu riêng mình, vừa cảm hóa những người chung quanh mình cùng tu, tức là tự giác và giác tha.

Trước nhất là cảm hoá gia đình. Những người gần nhất với Phật tử tại gia là cha mẹ, anh em, vợ con. Tuy mỗi người có quyền tôn thờ một lý tưởng riêng, nhưng trong gia đình mà lý tưởng khác nhau là cái cớ khiến tình thương lợt lạt.

Phật tử cố gắng cảm hóa gia đình không phải là độc tài, cái gì mình theo bắt trong gia đình phải theo, mà vì muốn đem lại tình thương và hạnh phúc cho gia đình.

Cha mẹ là bậc bề trên, kẻ làm con thương cha mẹ không gì hơn khuyên cha mẹ hướng về đạo đức. Nếu cha mẹ đã quy y Tam Bảo, người con phải tạo những trợ duyên tốt cho cha mẹ tiến lên trong việc đạo đức. Nếu cha mẹ chưa biết Phật pháp, người con cố gắng khuyên giải và tự mình thể hiện những cái đẹp Phật giáo để cha mẹ trông thấy cái hay mà trở về đạo pháp.

Tình cốt nhục muốn được sâu đậm thiết tha là anh em phải chung thờ một lý tưởng. Nếu anh em chưa biết Phật giáo người Phật tử nên hướng dẫn đến với đạo. Nhưng trước tự bản thân mình phải theo, sống thực theo các hạnh Từ bi, Nhẫn nhục… để anh em nhìn vào ta thấy được cái gì cao đẹp. Những nét đẹp nơi ta sẽ chuyển hóa tâm hồn huynh đệ ta hướng về Phật giáo.

Đối với vợ hoặc chồng, người Phật tử sẽ áp dụng Phật giáo cư xử trong gia đình khiến vợ hoặc chồng cảm thấy Phật giáo đem đến cho gia đình một ân huệ quý báu. Không nên bắt buộc vợ hoặc chồng theo Phật giáo mà phải tự mình làm cao đẹp Phật giáo để bạn mình cùng chuyển hướng theo.

Con cháu trong nhà, người Phật tử phải khéo huấn luyện dạy dỗ chúng những gương hay hạnh tốt trong Phật giáo khiến chúng thấm nhuần Phật giáo từ thuở bé. Nhất là Pháp Lục Hòa hằng giảng dạy chúng ăn ở cư xử với nhau thành nếp hòa thuận, tin yêu, không nên hững hờ cho chúng còn bé không cần biết đạo đức, đến khi chúng khôn lớn chưa từng biết gì về đạo Phật nghe ai nói gì hay theo, chừng ấy kẻ làm cha mẹ hối hận đã muộn.

Thứ nữa là cảm hóa láng giềng. Hương vị đạo đức của từng gia đình các Phật tử sẽ nhiễm lây sang hàng xóm. Phật tử lấy đạo đức thực tự bản thân, gia đình cảm hóa người lân cận là điều căn bản chân chánh. Không cần khoe khoang Phật giáo hữu ích, cao siêu… chỉ cần các Phật tử biết sống thực theo Phật giáo.

Phật tử tại gia muốn cảm hóa những gia đình bên cạnh mình hướng về Phật giáo, trước phải đem Phật giáo làm lợi ích thiết thực trong gia đình mình thì sự cảm hóa mới có hiệu quả. Ngược lại, nếu người mà nhìn vào gia đình của các Phật tử dẫy đầy một màu thù hận, buồn khổ thì khó mong kết quả. Muốn lợi tha quyết định trước phải tự lợi.

Thứ ba là cư xử với bạn đạo. Chúng ta muốn cảm hóa người chưa biết đạo trở về với Phật giáo, nếu trong tình đạo hữu cùng nhau mà cư xử bất nhã, hoặc giận hờn thù nghịch nhau thì người ngoài làm sao dám bước chân vào đạo. Cho nên, người Phật tử biết thương đạo, thương quí thầy, là bạn đạo phải cư xử với nhau rất hòa mục, thương yêu nhau như con một cha.

Tư cách đúng đắn của Phật tử, khi ra làm việc đạo không nghĩ đến cái ngã của mình, không bao giờ thấy mình là người có công lớn.

Tuy rằng bạn đạo không phải tình cốt nhục, nhưng cùng thờ một lý tưởng, cùng tôn Đức Thích Ca là Từ Phụ thì đâu khác tình cốt nhục. Biết thương yêu nhau, đùm bọc nhau là Phật tử làm đẹp cho Phật giáo khiến những người ngoài thèm muốn đến với đạo. Phật sự quan trọng là Phật tử phải sống hòa thuận vui vẻ với nhau.

Đặc biệt, là tham gia việc từ thiện. Phật tử biết tu theo hạnh Từ Bi của Phật, thì tùy khả năng cứu giúp những người chung quanh mình khi họ gặp những hoàn cảnh khổ đau. Cứu trợ người là hành động đẹp khiến người ta cảm mến trở về với Phật giáo.

Ngoài ra, Phật tử tùy sức sẵn sàng góp công vào những việc từ thiện xã hội. Gặp người đau khổ, chúng ta nên đặt mình trong hoàn cảnh của họ để cùng thông cảm nỗi khổ đau với họ. Sự giúp đỡ nhiều ít không quan trọng, quan trọng ở chỗ thông cảm nỗi khổ của họ hay không. Tuy giúp của ít mà thông cảm nỗi khổ đau của họ, còn hơn giúp của nhiều mà lạnh lạt vô tình.

Người Phật tử đã làm bổn phận trong gia đình, ngoài xã hội, còn có trách nhiệm gần gũi liên lạc với ngôi Tam Bảo, nhưng tới lui lo lắng phải có chừng mực, giới hạn không nên đi quá trớn; cũng tránh ly khai chùa chiền, tăng ni. Công đức cúng dường Tam Bảo thênh thang vô lượng không nên hạn cuộc trên tấm bảng nhỏ hẹp, trong những lời khen dễ dàng.

Tư cách đúng đắn của Phật tử, khi ra làm việc đạo không nghĩ đến cái ngã của mình, không bao giờ thấy mình là người có công lớn. Không vì tiếng khen mà cố gắng, không do lời chê mà thối lùi. Vui vẻ phấn khởi làm Phật sự chỉ vì Tam Bảo mà thôi.

Khi lo việc đạo do sự đồng ý vui vẻ trong gia đình, không qua mặt khuất lấp người trong nhà, lúc nào cũng giữ thái độ đường đường chính chính, kính trọng Tam Bảo. Người biết quý kính Tam Bảo là phải thương yêu chúng sinh, vì chúng sinh là nhân duyên chính Tam Bảo xuất hiện. Chỉ biết Tam Bảo mà không biết chúng sinh là một sai lầm lớn của Phật tử, Phật tử cố gắng khêu sáng ngọn đèn Tam Bảo để chúng sinh thấy mà hướng về…