Home Tin Tức Phật Giáo Đồng Tháp: Tưởng niệm húy nhật NT.Thích nữ Như Hoa

Đồng Tháp: Tưởng niệm húy nhật NT.Thích nữ Như Hoa

Sáng 28-9-Canh Tý (13-11-2020), NT.Thích nữ Như Ngọc, nguyên Ủy viên HĐTS, viện chủ chùa Phước Huệ, cùng tông môn Tổ đình Phước Huệ (P.1, TP.Sa Đéc); chư Ni của chùa tổ chức lễ tưởng niệm 29 năm ngày NT.Thích nữ Như Hoa, nguyên Ủy viên HĐTS, nguyên trụ trì chùa Phước Huệ viên tịch.


Hướng về Giác linh NT.Thích nữ Như Hoa

Tham dự lễ có HT.Thích Thiện An, Thành viên HĐCM; HT.Thích Thiện Phương, Chứng minh BTS GHPGVN tỉnh Đồng Tháp; chư tôn đức Thường trực BTS GHPGVN tỉnh, TP.Sa Đéc; chư Tăng Ni trụ trì, đại diện chính quyền và đông đảo Phật tử.

Tại buổi lễ, NS.TN.Như Hòa, đại diện Phân ban Ni giới Phật giáo Đồng Tháp đã ôn lại những công hạnh của NT.Thích nữ Như Hoa. Sau đó, đại chúng niệm hương tưởng niệm, kính nguyện Giác linh Ni trưởng cao đăng Phật quốc.

TT.Thích Huệ Minh, Phó BTS GHPGVN tỉnh Đồng Tháp thay mặt chư tôn đức chứng minh sách tấn Ni chúng Phước Huệ: luôn học tập hành theo hạnh của cố Ni trưởng, hành trì giới luật Phật chế.

Theo tiểu sử, NT.Thích nữ Như Hòa thế danh Chế Thị Ngàn, Pháp danh Chơn Ngạn, Pháp hiệu Như Hoa, nối pháp mạch dòng Thiền Lâm Tế Gia phổ đời thứ 40, sinh năm Mậu Thân (1908) tại làng Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Ni trưởng sinh trưởng trong gia đình trung nông, nhiều đời phụng sự Phật pháp, kính tin Tam bảo. Thân phụ là cụ ông Chế Văn Cảnh, pháp danh Tế Thời và hiền mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Xướng, pháp danh Huệ Phụng, khi tuổi cao hai cụ đều xuất gia học Phật.

Thuở nhỏ, Trưởng lão Ni học Quốc ngữ, Hán-Nôm với Hòa thượng Tuyên Luật sư Thích Bửu Phước (chùa Phước Ân, rạch Cai Bường, làng Vĩnh Thạnh). Ni trưởng có hai người em gái, một người thuận theo thế tục để kế thừa gia nghiệp, còn người em út đã nối gót ly trần thoát tục, xuất gia học Phật, dự vào hàng Thích tử (nay là NT.Thích nữ Như Ngọc 101 tuổi, cố vấn trụ trì tổ đình Phước Huệ, Sa Đéc).

Túc duyên nhiều đời, thiện duyên khai phát, đất Bồ-đề được vun bồi, năm 1928 (Mậu Thìn), vừa tròn 19 tuổi, Ni trưởng đảnh lễ Đại lão Hòa thượng Luật sư Ngộ Giác Chánh Quả cầu xin xả tục xuất gia tại tổ đình Kim Huê (Sa Đéc) và được Hòa thượng Bổn sư ban Pháp danh Chơn Ngạn, Pháp hiệu Diệu Hoa.

Năm 1932 (Nhâm Thân), Ni trưởng ra Huế tham học tại Ni trường Diệu Đức, nay là đường Điện Biên Phủ, phường Trường An, thành phố Huế.

Năm 1936 (Bính Tý), chiến sự bùng nổ ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Ni trưởng xin phép Ban Giám viện cho trở về Sa Đéc, cùng chia sẻ nỗi mất mát đau thương với quê hương, cầu học gia giáo với Trưởng lão HT.Chánh Thành, Chánh Quả, Bửu Chung, Bửu Phước…

Năm này, riêng tại tổ đình Kim Huê, Đại lão Hòa thượng Luật sư Ngộ Giác Chánh Quả mở lớp dạy kinh luật cho Tăng Ni theo học. Các môn học gồm: Luật tứ phần, Đại luật, Luật Sa-di, Phạm Võng, Trường A-hàm, Qui nguyên trực chỉ…

Năm 1941 (Tân Tỵ), Đại lão Hòa thượng Luật sư Ngộ Giác Chánh Quả đã nhận ngôi chùa Phước Huệ và đưa Ni chúng trên 30 vị về đây tu học, giao quyền cho Ni sư Chơn Ngạn Diệu Hoa đảm trách lãnh chúng Ni giới; ngài cố vấn và chỉ chuyên dạy Luật cho chư Ni. Ban Giáo thọ ngoài Hòa thượng cố vấn còn có thầy Huệ Phương dạy Luận, Ni sư Chơn Ngạn Diệu Hoa dạy Duy thức…


Chùa Phước Huệ ngày nay

Năm 1946 (Bính Tuất), Ni trưởng chính thức trụ trì chùa Phước Huệ, mở trường tập chúng tu học tại Ni trường Phước Huệ. Trong lúc kinh tế khó khăn, Ni trưởng chủ trương tự tiêu tự sản, vừa tu học, vừa canh tác, nêu cao tinh thần “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Một ngày không làm, một ngày không ăn).

Theo đó, NT.Thích nữ Như Hoa cho canh tác ruộng lúa, sản xuất tương chao tự túc kinh tế nhà chùa, chư Ni vừa học kinh vừa lao động sản xuất. Nhờ khéo tổ chức, tương chao Phước Huệ nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh. Nhờ thế nhà chùa có đủ kinh phí duy trì lớp học, cho đến khi các trường Ni do Giáo hội Tăng-già Nam Việt thành lập và điều hành từ 1950.

Với tinh thần yêu nước, Ni trưởng đã âm thầm nuôi giấu chiến sĩ cách mạng hoạt động chống Pháp và lo quân lương cũng như y tế cho các chiến sĩ yên tâm chống giặc ngoại xâm, hướng dẫn các cháu trong gia tộc họ Lê dấn thân vào đường cứu quốc.

Năm 1947 (Đinh Hợi), do phong trào tiêu thổ kháng chiến chống Pháp, ngôi Ni trường Phước Huệ bị tàn phá trong khói lửa hỏa hoạn. Để đảm bảo việc bí mật hoạt động của các chí sĩ yêu nước, Ni trường tạm gián đoạn thời gian ngắn.

Năm 1956 (Bính Thân), Giáo hội Tăng-già Nam Việt chính thức phân công, giao nhiệm Ni bộ Bắc tông, thiết lập nhị bộ Tăng-già như thuở đức Phật còn tại thế, tuyên dương Diệu pháp, đào tạo thế hệ trẻ kế thừa mạng mạch Phật giáo. Ni trưởng, một trong những người đồng vận động Đại hội thành lập Ni bộ Nam Việt, được tổ chức tại chùa Huê Lâm ngày 6 và 7-10-1956, từ đây Người dồn hết tâm lực vào việc góp phần giáo dục đào tạo nhân lực cho Ni bộ Bắc tông.

Năm 1958-1960, Ni trưởng được tín nhiệm và suy cử chức Giám viện Ni trường Dược Sư, Gia Định (nay là đường Lê Quang Định, P.11, Q.Bình Thạnh, TP.HCM).

Ni trường Dược Sư phát triển tốt, học chúng Ni các nơi quy tụ ngày càng đông. Đáp ứng nhu cầu tu học cho Ni chúng, năm 1959, Ni trưởng nhận lãnh thêm chùa Thiên Hậu (chùa Phước Hậu ngày nay), tọa lạc tại số 120/16 Trần Hưng Đạo, Q.1, TP.HCM.

Chiến tranh leo thang, gieo rắc thêm tang thương, những mảnh đời bất hạnh tăng nhanh với những trẻ mồ côi cơ nhỡ không nơi nương tựa, Người quyết tâm thành lập Ký nhi viện Dược Sư, đồng thời làm cố vấn trong hai năm, từ 1960 đến 1962.


Niệm hương tưởng niệm cố Ni trưởng

Pháp nạn 1963 (Quý Mão), nhiều vị Tăng Ni bị bố ráp, giam cầm trên khắp hai miền Trung – Nam đất nước, có một số vị bị đày đi Rạch Cát, bị giam cầm ở Chí Hòa… Trong hoạn nạn đó Ni trưởng đều chung sẻ chia.

Sau Pháp nạn năm 1963, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời ngày 4-1-1964, Ni trưởng đã tích cực tham gia vào việc thành lập Ni bộ có trụ sở Trung ương tại chùa Từ Nghiêm, nay đường Bà Hạt, P.4, Q.10, TP.HCM.

Phong trào đòi hòa bình của Phật giáo miền Nam (1965-1973) đã góp phần nêu cao chính nghĩa cuộc đấu tranh đòi độc lập dân tộc của nhân dân miền Nam. Bằng những hoạt động phong phú, đặc biệt là với lý luận đanh thép và hành động quyết liệt, phong trào đấu tranh đòi hòa bình của Phật giáo đã từ trong Giáo hội ra ngoài quần chúng tín đồ, cả trong nước và trên diễn đàn quốc tế, góp phần tạo ra một sức ép chính trị, thúc ép Mỹ phải ký Hiệp định Paris (27-1-1973) lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Nhiều vị Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni bị chính quyền Sài Gòn giam cầm, nhiều cuộc biểu tình đòi quyền sống, chấm dứt chiến tranh của Tăng Ni, Phật tử diễn ra làm chấn động thế giới.

Từ năm 1968 đến 1975, biến cố thiên tai bão lụt khủng khiếp xảy ra tại miền Trung, ở hải ngoại thì bà con Việt kiều đang sinh sống tại Campuchia bị chế độ cầm quyền tại đây đàn áp nên phải hồi hương. Đây là trọng tâm cứu trợ của Giáo hội, Người là một trong những vị đắc lực theo phương châm: “Nơi nào Phật sự cần thì đến, Phật tử cần thì đi, không ngại gian lao chẳng từ khó nhọc”.


Chư Ni tham dự lễ tưởng niệm

Sau năm 1975, mặc dù tuổi cao sức yếu nhưng vì tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Ni trưởng đảm nhiệm chức Giám viện Ni trường Từ Nghiêm.

Năm 1981 (Tân Dậu), Đại hội đại biểu Phật giáo Việt Nam lần thứ nhất tại thủ đô Hà Nội, Ni trưởng được Đại hội suy cử Ủy viên HĐTS GHPGVN; năm 1982, là thành viên Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM.

Bên cạnh đó, Ni trưởng vẫn lo đến Phật sự tại quê nhà (tỉnh Đồng Tháp) như: Thành lập Tỉnh hội Phật giáo; xây dựng lò thiêu cho Tăng Ni, Phật tử.

Cuối đời, Ni trưởng về lại tổ đình Phước Huệ – Sa Đéc dưỡng bệnh và cố gắng góp phần cho kế hoạch mở Trường Cơ bản Phật học Đồng Tháp, hạnh nguyện trong sự nghiệp giáo dục đào tạo cho đến hơi thở cuối cùng.

Trước phút vĩnh ly Ta-bà, chúng đệ tử vây quanh, Ni trưởng hoan hỷ mỉm cười từ biệt và đọc bài kệ rằng:

來時歡喜去時悲
悲有人情各有之
地日相逢悲喜樂
來時歡喜去時悲

Lai thời hoan hỷ, khứ thời bi,
Bi hữu nhân tình các hữu chi,
Địa nhật tương phùng bi hỷ lạc,
Lai thời hoan hỷ khứ thời bi.

Hóa duyên đã mãn, lúc 8g40 ngày 28-9-Kỷ Tỵ (27-10-1989), NT.Thích nữ Như Hoa an nhiên xả báo thân – trụ thế 81 Xuân, giới lạp 60 Hạ.

Thích Huệ Nghiêm – Báo Giác Ngộ