Phật Học

Con sóng của tâm thức

Sóng có khi ồn ào mà có khi lặng lẽ, sóng có lúc dữ dội mà có lúc dịu êm. Nhưng vốn dĩ con sóng chỉ là trạng thái của nước, mà tính nước vốn là yên ắng, là tĩnh lặng. Và dòng Tâm thức cũng như con sóng. Nên gọi là con sóng của […]
19

Sóng có khi ồn ào mà có khi lặng lẽ, sóng có lúc dữ dội mà có lúc dịu êm. Nhưng vốn dĩ con sóng chỉ là trạng thái của nước, mà tính nước vốn là yên ắng, là tĩnh lặng. Và dòng Tâm thức cũng như con sóng. Nên gọi là con sóng của Tâm thức.

Vạn vật hiện tượng trong Tâm có sinh ắt có diệt, có thành ắt có hoại, có khởi ắt có chấp, có buông ắt có tịnh, có xả ắt có an. Trong sự biến hóa của Tâm thức thì những vọng niệm khởi lên đều chung thủy không có chỗ sinh cũng không có chỗ diệt. Ai mà nói diệt vọng niệm hay chặn vọng niệm thì người đó chưa hiểu đạo. Đạo phải là thông suốt không ngăn ngại, không vướng mắc, không khởi tâm chặn hay diệt trừ vọng niệm vì ngay trong ý đó cũng đã là một vọng niệm rồi.

Khi tư lương việc ác thì đó là vọng niệm ác. Vậy tư lương việc thiện có phải là chân niệm không? Xin thưa đó không phải là chân niệm mà đó cũng là một vọng niệm, mà là vọng niệm thiện. Và chân niệm là không tư lương việc ác hay việc thiện. Khởi nên suy nghĩ, khởi nên một ý nghĩ cho dù thiện hay ác cũng đều là vọng. Nếu biết vọng niệm mà không theo đó là chân. Như vậy biết vọng không theo chính là chân niệm cũng gọi là Chánh Niệm.

Tâm thức ta tựa sóng biển muôn trùng khơi, cứ vỗ bờ ngày đêm, con sóng cuộn từng cơn. Quay cuồng vỗ vào ” bờ cát” là niệm trần, niệm cảnh, niệm tài, niệm danh, niệm sắc, niệm thực, niệm thùy, niệm tình, niệm nghĩa, niệm nhân, niệm ác, niệm thiện…mà khiến ” con sóng” của Tâm thức không khi nào được yên. Có lúc sóng vỗ nhẹ là lúc thư thái mà có lúc sóng vỗ ầm âm đó là khi lửa lòng thiêu đốt Tâm trí cuồng quay.

Đã là con sóng thì có lúc này lúc khác, lúc dữ dội mà có khi dịu êm, có lúc ồn ào mà có khi lặng lẽ nhưng thể sóng cũng là do nước mà thành. Và bản chất của nước là yên bình và tĩnh lặng, thanh an và dịu êm. Cũng như vậy,”sóng” tâm thức khởi là do “vọng niệm trần lao” cứ thôi thúc bởi lửa lòng Tham, sân, si. Hãy dập tắt ngọn lửa lòng Thâm, sân, si bằng cách cho nước “chân niệm” vào, mà ” chân niệm” là ” biết vọng không theo” để vọng tự sinh ắt tự diệt, tự thành ắt tự hoại…mà không khởi tâm tác ý và thông qua sự quán thực tướng các pháp để biệt vọng niệm mà không chấp không theo, chứ không phải bằng con đường tư lương nghĩ suy.

Có người nói Tâm thức là hư vọng, đó không phải chân tâm, vậy cũng như nói ” con sóng không phải nước”,  thì ta biết điều đó là không đúng. Sóng hình thành từ nước, là biến thể của nước tạo ra, kỳ thực cũng là nước mà thôi. Nếu không tư lương, không vọng niệm, nghĩ suy, không chấp niệm thì ngay lúc đó tâm thức sẽ quay về với “bản tánh nước tĩnh lặng, yên bình”. Hãy để những gì trong lòng cuốn ra biển, về đại dương sâu thẳm của Tâm thức, để ta thấy được sự rộng lớn Tâm hồn. Để bao phiền muộn sầu não, khổ lụy chìm vào đại dương sâu thẳm, và không còn gì ngoài một hình bóng hư ảo giữa trần gian. Tâm hồn rộng lớn tựa biển khởi, dung chứa bao hàm tất cả không ngăn ngại. Và đạo chính là sự rộng lớn của Đại Dương Tâm hồn.

Quang Minh

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Đức năng thắng số

Nghiệp tạo ra số phận và chỉ có đức năng mới thắng số mà thôi. Đức chính là đức độ tích lũy được thông qua những hành vi thiện thân khẩu ý đem lại. Từ xa xưa có câu để lại là ” đức năng thắng số”, vậy đức năng ở đây được hiểu như […]
21

Nghiệp tạo ra số phận và chỉ có đức năng mới thắng số mà thôi. Đức chính là đức độ tích lũy được thông qua những hành vi thiện thân khẩu ý đem lại.

Đức năng thắng số

Từ xa xưa có câu để lại là ” đức năng thắng số”, vậy đức năng ở đây được hiểu như thế nào? và cái gì tạo ra số và số được thể hiện ra sao?

Cuộc sống là chuỗi quá trình nhân quả, ở trong quá trình đó, bất kể loài nào cũng không ra khỏi quy luật của nhân quả, quy luật của nghiệp. Nghiệp chính là những hành vi tạo tác thông qua hành vi thân hành động việc làm, khẩu nói năng giao tiếp, ý nghĩ suy vọng tưởng. Qua quá trình sống, từ các hành vi thân khẩu ý mà ta vô tình hay cố ý, biết hay không biết đã tạo nghiệp báo phải chịu kết quả không tốt hay tốt sẽ đến từ tương lai hay kiếp sau, có khi là ảnh hưởng con cháu mình. Đây là quả do nhân tạo tác mà thành. Và nghiệp tạo ra số phận hay định mệnh của một con người (biệt nghiệp), một tập thể người (cộng nghiệp), một cá thể, một loài hay chuỗi nhiều loài. Nghiệp tạo ra vô số nhân duyên tốt đẹp hay xấu tác động đến người chịu nghiệp, và kết quả của nghiệp lại làm nhân cho nhân của nghiệp mới, và cứ thế tạo thành chuỗi TẠO TÁC – NGHIỆP – TẠO TÁC – NGHIỆP…hay NHÂN – QUẢ – NHÂN – QUẢ…và cái vòng luẩn quẩn trong cuộc sống ảo mộng cứ tiếp nối không ngừng. Có khi ta được gặp may mắn làm việc gì cũng thuận lợi là do duyên quả của nhân tạo tác thiện nghiệp trước đó ; có khi làm gì cũng không được may mắn, có lúc sinh ra trong hoàn cảnh không tốt…tất cả cũng do duyên quả của nhân tạo tác ác nghiệp lúc trước mà có…
Nhưng có người sắp nhận nghiệp dữ quả báo tới mà lúc phút cuối cùng lại thay đổi cục diện, chuyển biến tình hình từ xấu thành tốt là do đức năng của người đó, người đó trong lúc bình thường hay phút gần chuẩn bị nhận nghiệp báo chiêu cảm lúc trước lại có những hành động, hành vi, việc làm tốt nên nhờ đó đức độ hình thành và đức độ can thiệp vào kết quả nghiệp báo làm nghiệp báo giảm nhẹ hay hết nghiệp báo đó. Ngược lại cũng có người gặp may mắn tốt lành, giàu sang sung túc…nhưng qua những ngày tháng năm trong quá khứ tích lũy những hành vi tạo tác những nghiệp bất thiện nên đúng ra người đó đang hưởng quả báo tốt lành do phước đức trước nhưng ở đây đã có sự can thiệp của nghiệp báo không tốt vào nên người đó lại gặp không may mắn nữa, có khi trở thành tay trắng hay tù tội…

Đức năng thắng số

Vậy ai đang gặp những việc bất như ý là đang chịu nghiệp xấu thì hãy sống tốt, sống có đức độ để có thể thắng số phận do nghiệp tạo ra và ứng với câu “ĐỨC NĂNG THẮNG SỐ” là vậy. Còn những người đang gặp tốt lành thì cũng đừng vội mừng chủ quan, kiêu mạn tự đại mà tạo tác nghiệp thì nghiệp mới không tốt lại làm cho nghiệp tốt cũ giảm đi hay tổn mất do thiếu đức độ mà ra.

Hãy sống an vui trong chánh niệm hiện tiền, mặc thịnh suy của cuộc đời nghiệp số, sống đức độ hiền lành nhân hậu, lấy con tim đối đãi lẫn nhau thì sớm muộn gì nghiệp báo tốt đẹp cũng sẽ tới với mình.

Quang Minh

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Sợ hãi và cách hóa giải

Theo Phật giáo, sợ hãi là một loại cảm giác không dễ chịu, không làm cho chúng ta hài lòng. Hay nói cách khác, sợ hãi là một dạng của khổ đau. Và nguyên nhân sâu xa của sự sợ hãi là do tâm chấp ngã, do nhận thức sai lầm của con người.  Vì […]
15

Theo Phật giáo, sợ hãi là một loại cảm giác không dễ chịu, không làm cho chúng ta hài lòng. Hay nói cách khác, sợ hãi là một dạng của khổ đau. Và nguyên nhân sâu xa của sự sợ hãi là do tâm chấp ngã, do nhận thức sai lầm của con người. 

Sợ hãi và cách hóa giải

Vì chấp ngã, vì nhận thức và tư duy theo đường hướng sai lầm khiến cho lòng vị kỷ, tâm tham luyến, sân hận càng ngày càng lớn mạnh. Đấy là những chất liệu tiềm tàng, và là nguyên nhân căn bản gây nên sợ hãi và làm cho lòng sợ hãi càng ngày càng nhiều và càng sâu nặng thêm.

Tại sao như vậy? Tại vì cuộc sống là vô thường, tất cả mọi sự vật hiện tượng trong thế giới này đều luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng. Con người không thể nào kiểm soát và làm chủ hết được trong tất cả các tình huống, hoàn cảnh sống. Chính vì không làm chủ được, không kiểm soát được, lại không muốn mất đi những gì người ta quý mến, yêu thích, những gì người ta đang sở hữu, và không muốn cái ngã của mình bị tổn thương cho nên sợ hãi.

Ảnh: Đức Dalai Lama thứ XIV.

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

17 cách tích đức đâu phải có tiền

Người xưa có câu: “Có đức mặc sức mà ăn”, ý muốn dạy chúng ta rằng làm gì thì cũng phải coi trọng đức, tích đức và đề cao tầm quan trọng của đức. Vậy làm thế nào để tích đức ngay cả khi không có điều kiện vật chất? Hãy cùng xem 17 cách […]
21

Người xưa có câu: “Có đức mặc sức mà ăn”, ý muốn dạy chúng ta rằng làm gì thì cũng phải coi trọng đức, tích đức và đề cao tầm quan trọng của đức. Vậy làm thế nào để tích đức ngay cả khi không có điều kiện vật chất? Hãy cùng xem 17 cách tích đức không tốn một đồng mà vị lão hòa thượng dạy dưới đây để hành theo!

17 cách tích đức đâu phải có tiền

Cùng Thích và Chia Sẻ Trang để mang kiến thức Phật Giáo đến với toàn thể Phật Tử. Việc làm này sẽ được vô lượng nhân đức!

1. Tích đức từ lời nói

Lời nói cần phải thể hiện sự khoan dung độ lượng đối với người khác.

Lời nói thẳng: Có thể chuyển sang cách nói “vòng, nói giảm, nói tránh” một chút.

Lời nói lạnh như băng: Hãy hâm nóng lên một chút trước khi nói.

Lời nói phê bình người khác: Trước khi nói hãy chú ý cân nhắc đến lòng tự tôn của người nghe.

Một lời khen ngợi đúng lúc có giá trị ngàn vàng.

2. Tích đức từ đôi tay

Học cách ca ngợi, vỗ tay tán thưởng người khác.

Mỗi người đều cần tiếng vỗ tay của người khác bởi vì ủng hộ, khen ngợi người khác là điều cần có ở mỗi người.

Không biết vỗ tay, khen ngợi người khác thì đời người thực sự quá nhỏ hẹp.

Cho người khác tiếng vỗ tay kỳ thực là cho chính bản thân mình.

3. Tích đức từ giữ thể diện cho người khác

Ở một số tình huống việc “không nể mặt” là một thái độ vô lễ lớn nhất.

Người phương đông rất xem trọng thể diện vì vậy ở bất cả thời điểm nào cũng nên giành cho người khác một “lối thoát” để giữ thể diện.

Nhìn thấy rõ một người cũng đừng nên chỉ thẳng ra, hãy lựa lúc mà nói.

Hãy nhớ đừng bao giờ làm tổn thương thể diện của người khác bởi hậu quả của nó là khôn lường.

Trong một số tình huống, vạch trần người khác là một cái tội đẩy người ta đến đường cùng.

4. Tích đức từ việc tín nhiệm người khác

Người có tính đa nghi trời sinh thì khó có người bạn chân thành.

Được người khác tin tưởng, tín nhiệm là một loại hạnh phúc.

Người có bao nhiêu tín nhiệm thì sẽ có bấy nhiêu cơ hội thành công.

Người xưa nói: “Đã nghi ngờ người thì không kết giao, đã kết giao thì không nên nghi ngờ người.”

5. Tích đức từ việc cho người khác sự thuận lợi

Cho người khác được lợi cũng chính là làm lợi cho mình.

Thời điểm người khác cần bạn nhất, hãy sẵn sàng cho họ một bờ vai để nương tựa.

Suy nghĩ cho người khác cũng chính là suy nghĩ cho bản thân mình.

6. Tích đức từ việc giữ lễ tiết

Người có lễ tiết đi khắp thiên hạ cũng khó có người trách mắng, không ưng ý.

7. Tích đức từ tính cách khiêm nhượng

Người xưa nói: Người kiêu căng ngạo mạn, thích thể hiện tài năng thì đi đâu cũng có kẻ địch.

Tránh khoe khoang tài năng của mình mọi lúc mọi nơi.

Buông bỏ kiêu căng, giảm bớt tự kỷ.

Không nên ở trước mặt người đang thất ý mà đàm luận về đắc ý của mình.

Làm người, trước là đừng khoa trương tùy tiện, sau đừng đắc ý, nên khiêm nhượng một chút.

8. Tích đức từ việc hiểu người khác

Mọi người, ai cũng mong muốn người khác hiểu và thừa nhận mình.

Hiểu người khác cũng chính là một cách đem lại lợi ích cho người khác.

Đổi vị trí để hiểu người khác.

9. Tích đức từ việc tôn trọng người khác

Đem lòng tự tôn của người khác đặt ở vị trí cao nhất.

Cố gắng để người khác cảm nhận thấy sự tôn nghiêm của bản thân mình.

Tôn trọng người yếu kém hơn mình càng là đáng quý.

Địa vị càng cao thì càng không thể khinh thường người khác.

10. Tích đức từ việc giúp đỡ người khác

Ở vào thời khắc quan trọng, ai mà không hy vọng có người trợ giúp mình?

“Vì người khác” sẽ luôn luôn chiến thắng “vì mình”.

Lòng tốt sẽ luôn luôn được người khác khắc sâu, nhớ kỹ.

Khi giúp đỡ người khác cũng phải tìm cách để đối phương vui cười mà tiếp nhận.

11. Tích đức từ việc thành thật với mọi người

Không thành thật sẽ khó tồn tại, người giả dối tất sẽ không có bạn chân thành.

Luôn lấy thành tín làm gốc, coi trọng thành tín trong mọi mối quan hệ.

Dùng thành tín thu phục người khác, sẽ dễ đạt được thành công.

Một người nếu như mất đi sự thành thật thì làm việc gì cũng khó.

Bất kể lý do gì cũng không thể giải thích được lý do sự giả dối của bản thân.

12. Tích đức từ việc biết cảm ơn người

Cảm ơn là một cách ngợi ca cuộc đời.

Trong cuộc sống, lời cảm ơn kịp thời sẽ khiến mọi người thân thiện với nhau hơn.

Cảm ơn đối thủ là một cách thể hiện của người có chí khí.

13. Tích đức từ lòng nhân ái của bản thân

Mỗi người đều nên tu dưỡng lòng nhân ái trong mình. Bởi người có tấm lòng nhân ái luôn sống nhẹ nhàng mà lại dễ dàng nhận được sự hợp tác từ người khác.

14. Tích đức từ việc mỉm người với người khác

Không có ai cự tuyệt một nụ cười chân thành cả!

Mỉm cười là phương thức kết nối hữu hiệu giữa con người với con người.

Dùng nụ cười để ứng phó với sự “khiêu chiến” của đối thủ mới thực là cao nhân.

15. Tích đức từ lòng khoan dung

Không thể khoan dung người khác có thể là bởi vì lòng dạ của mình còn quá nhỏ hẹp!

Dùng khoan dung có thể cải biến một con người lầm lỗi.

Người có lòng khoan dung sẽ dễ dàng chiếm được lòng người khác.

Hãy học cách tha thứ khuyết điểm của người khác.

Đôi lúc, một quan hệ tốt đẹp là từ nhẫn mà sinh ra đấy!

16. Tích đức từ lòng lương thiện

Không có ai là không muốn làm bạn, làm hàng xóm hay hợp tác với người có tấm lòng lương thiện.

Người lương thiện có thể thu phục người khác. Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm.

17. Tích đức từ sự biết lắng nghe

Người xưa có câu: “Nhìn nhiều, nghe nhiều và nói ít”. Người biết lắng nghe thường được lòng người khác bởi lắng nghe là một cách lấy lòng người khác tốt nhất.

Nguồn: Phật học Đời sống

Sức Khỏe

Thiền xông hơi – biện pháp trị liệu không dùng thuốc

Thiền và xông hơi đều là những cách giúp cơ thể hạn chế mệt mỏi… Khi kết hợp hai phương pháp này thì sức khỏe cải thiện rất tốt Thiền và xông hơi giúp thải độc cơ thể Trong liệu pháp xông hơi, hơi nóng tạo ra một cơn sốt nhân tạo trong thân thể […]
21

Thiền và xông hơi đều là những cách giúp cơ thể hạn chế mệt mỏi… Khi kết hợp hai phương pháp này thì sức khỏe cải thiện rất tốt

Thiền và xông hơi giúp thải độc cơ thể

Trong liệu pháp xông hơi, hơi nóng tạo ra một cơn sốt nhân tạo trong thân thể giúp giãn nở mạch máu dưới da, kích thích lưu thông khí huyết và thúc đẩy việc đào thải độc tố.

Điều này kích hoạt sự tẩy rửa từ bên trong nhằm đẩy cặn bã và chất độc ra ngoài cơ thể bằng cách toát mồ hôi qua lỗ chân lông, các cơ bắp đang trong trạng thái nghỉ ngơi cũng được tẩy rửa, chống căng thẳng về tinh thần và làm sảng khoái đầu óc.

Hệ tuần hoàn được kích thích, da được đàn hồi và xoa dịu. Cơ thể có cảm giác sạch sẽ và đổi mới. Chính vì vậy, xông hơi giúp cơ thể giảm mệt mỏi, giảm đau nhức cơ khớp và phục hồi tổng quát đối với cả sức khỏe và sắc đẹp.

Trong quá trình xông hơi, lượng nước mất đi sẽ khiến trọng lượng cơ thể bị giảm. Tuy nhiên đây chỉ là việc giảm cân tạm thời. Khi bạn uống nước trở lại, cơ thể sẽ hấp thu để bù lại lượng nước vừa mất.

Nếu bạn đang thực hiện một chương trình giảm cân, hãy tiến hành thực hiện một chế độ ăn lành mạnh và kế hoạch tập thể dục thường xuyên kết hợp với việc xông hơi. Chế độ ăn lành mạnh là chế độ ăn ít chất béo bão hòa như mỡ động vật, nhiều chất xơ như các loại rau, quả… Bên cạnh đó, bạn nên uống đủ nước trước và sau khi xông hơi.

Thiền là một kiểu thư giãn chủ động tích cực với hiệu quả cao. Khi kết hợp hai phương pháp xông hơi và thiền sẽ mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Trong khi thiền thì cơ thể sẽ điều chỉnh và loại bỏ độc tố trong cơ thể, dưới tác động của xông hơi, độc tố sẽ được thải nhanh ra ngoài qua tuyến mồ hôi và những đường thải độc khác. Cơ thể được củng cố và cân bằng kịp thời, sức khỏe khôi phục nhanh nhờ sự lưu thông của khí huyết giúp điều chỉnh và làm sạch cơ thể một cách nhanh chóng.

Giải pháp lều xông hơi được nhiều người tin dùng

Với những tác dụng tích cực của phương pháp trị liệu bằng Thiền và Xông hơi, anh Nguyễn Văn Tứ đã sáng tạo ra “Lều Xông Hơi” được Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai công nhận trao giải thưởng hạng Ba và được Cục Đo lường Chất lượng kiểm định An toàn.

Theo anh Nguyễn Văn Tứ, cái tiện lợi của loại lều xông này là người xông có thể ngồi với tư thế thoải mái do được thiết kế thêm bộ phận tựa lưng, ngoài ra bạt phủ được thiết kế theo dạng khóa kéo nên có thể dễ dàng điều chỉnh nhiệt độ khi cần thiết ngoài việc điều chỉnh độ nóng từ nồi thảo dược, nồi thảo dược có bộ phận khung đỡ bao quanh nên rất an toàn khi sử dụng mà so với các nồi xông cổ truyền, người xông có thể bị tai nạn bỏng bất cứ lúc nào do không cẩn thận khi xông. Hiện nay, những chiếc lều xông hơi của anh Tứ có nhiều loại, lều hoa sen, lều hy vọng, lều đa năng …

Sau một thời gian đưa lều xông hơi và phương pháp Thiền Xông Hơi vào sử dụng, anh Nguyễn Văn Tứ đã phát triển hình thức này với việc triển khai cơ sở Xông Hơi Trị Liệu 4000 năm. Tại cơ sở xông hơi, bệnh nhân được xông với các loại thảo dược gia truyền từ người Dao Đỏ. Trước khi vào lều xông hơi, bệnh nhân được đo huyết áp điều chỉnh độ nóng cho phù hợp. Tùy vào sức chịu đựng, sức khỏe của mỗi người mà ngồi lâu hay mau. Sau khi ra khỏi lều xông hơi, bệnh nhân tự nằm ủ toàn thân trong vòng 15 phút cho mồ hôi tiếp tục thoát ra. Trong suốt thời gian xông hơi, bệnh nhân được cơ sở theo dõi lịch xông để có thể tăng hoặc giảm số lần xông cho phù hợp. Đã có rất nhiều bệnh nhân từ khắp nơi tìm đến đây để trị bệnh, qua ghi nhận cho thấy, đa số những người đến xông hơi ở cơ sở của anh Tứ đều cho kết quả tốt, bệnh tật biến chuyển theo chiều hướng tích cực.

Trường An

Nguồn: Phật học Đời sống

Sức Khỏe

Vì sao nên kiểm tra huyết áp vào buổi sáng?

Người bị huyết áp cao thường được bác sĩ khuyên nên theo dõi huyết áp tại nhà. Một nghiên cứu mới đây gợi ý rằng nên đo huyết áp vào buổi sáng, sẽ giúp dự đoán được nguy cơ đột quỵ tốt hơn là đo vào buổi tối. Đo huyết áp buổi sáng tốt hơn […]
13

Người bị huyết áp cao thường được bác sĩ khuyên nên theo dõi huyết áp tại nhà. Một nghiên cứu mới đây gợi ý rằng nên đo huyết áp vào buổi sáng, sẽ giúp dự đoán được nguy cơ đột quỵ tốt hơn là đo vào buổi tối.

Đo huyết áp buổi sáng tốt hơn – Ảnh: Internet

Theo nghiên cứu, các chuyên gia quan sát dữ liệu của người dân ở Nhật Bản và kết luận rằng: Khi được đo vào buổi sáng, huyết áp cao cho thấy nguy cơ cao hơn với đột quỵ. Tuy nhiên, khi đo vào buổi tối thì không thấy sự liên hệ về nguy cơ này.

Huyết áp có xu hướng lên cao vào buổi sáng, đối với người dân Châu Á hơn là so với người phương Tây – theo bác sĩ Satoshi Hoshide, Đại học Y khoa Jichi (Nhật Bản). Vì vậy, đo huyết áp vào buổi sáng là rất quan trọng với người Châu Á. Kết quả này được trình bày tại một hội nghị của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ ngày 8-11 qua.

Nghiên cứu này có sự tham gia của 4.300 người có ít nhất một nguy cơ bệnh tim mạch như huyết áp cao, cholesterol cao hoặc tiểu đường. Trong 2 tuần, người tham gia đo huyết áp tại nhà, 1 lần vào buổi sáng và 1 lần vào buổi tối. Sau đó, nhóm người tham gia này được theo dõi trong 4 năm. Trong thời gian này có 75 ca bị đột quỵ.

Các chuyên gia phát hiện rằng, so với huyết áp buổi sáng dưới 135 mm Hg, người có huyết áp buổi sáng trên 155 mm Hg có nguy cơ đột quỵ cao gấp 7 lần. Trái lại, người có huyết áp buổi tối trên 155 mm Hg lại không có sự liên hệ nào với đột quỵ so với người có huyết áp buổi tối dưới 135 mm Hg.

Một lý do lý giải vì sao huyết áp buổi tối không giúp dự báo được đột quỵ là vì các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến huyết áp như tắm nước nóng, nước ấm hoặc do ăn uống – bác sĩ Hoshide cho biết.

Tác giả nghiên cứu khẳng định đây chỉ là kết luận cho người Nhật và chưa rõ liệu có thể khái quát hóa cho các nhóm dân số khác hay không.

Trần Trọng Hiếu

(Theo Live Science)

Sức Khỏe

8 dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi

Ho kéo dài, sụt cân nhanh, nhiễm trùng mạn tính, đau xương, sưng mặt và cổ… là những dấu hiệu sớm cảnh báo bạn bị ung thư phổi. 1. Ho kéo dài “Đa số người ung thư phổi đều bị ho, đôi khi ho ra máu”, bác sĩ McKenna nhấn mạnh. Ho nhiều đờm có […]
15

Ho kéo dài, sụt cân nhanh, nhiễm trùng mạn tính, đau xương, sưng mặt và cổ… là những dấu hiệu sớm cảnh báo bạn bị ung thư phổi.
8 dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi

1. Ho kéo dài

“Đa số người ung thư phổi đều bị ho, đôi khi ho ra máu”, bác sĩ McKenna nhấn mạnh. Ho nhiều đờm có thể là dấu hiệu sớm. Ngay cả khi chỉ ho khan bình thường nhưng kéo dài hơn một tháng, vẫn cần đi bác sĩ kiểm tra.
8 dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi
2. Nhiễm trùng mạn tính
Virus gây viêm phế quản mãn tính là nguyên nhân của tình trạng nhiễm trùng phổi. Nếu bạn đang liên tục đau tức ngực, đây có thể là dấu hiệu gợi ý ung thư.
8 dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi
3. Sụt cân nhanh
Như các bệnh ung thư khác, ung thư phổi cũng gây sụt cân nhanh dù không có sự thay đổi trong chế độ ăn uống, luyện tập. Nguyên nhân là do các tế bào ung thư tăng sinh gây chán ăn.
8 dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi
4. Đau xương
Nếu ung thư phổi đã di căn đến các cơ quan khác trong cơ thể, bạn có thể cảm thấy đau tận trong xương hoặc khớp xương. Lưng và hông là những vùng thường đau nhức. Dấu hiệu này dễ nhầm lẫn với thiếu hụt vitamin D.
8 dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi
5. Sưng ở cổ và mặt
Nếu một khối u phổi bắt đầu đè lên tĩnh mạch chủ trên, bạn có thể thấy sưng ở cổ và khuôn mặt. Cánh tay và vùng trên ngực cũng có thể bị ảnh hưởng.
8 dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi
6. Mệt mỏi quá mức
Khoảng 80% người bị ung thư cảm thấy mệt mỏi quá mức so với bình thường, luôn muốn nằm nghỉ ngơi.
8 dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi
7. Yếu cơ
Ung thư phổi ảnh hưởng đến các cơ quan cũng như cơ bắp. Một trong những khu vực đầu tiên bị ảnh hưởng là vùng hông. Thậm chí bạn có thể cảm thấy khó nhấc người ra khỏi một chiếc ghế. Vai, cánh tay, chân cũng có thể bị yếu.
8 dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi
8. Canxi trong máu cao 
Một số trường hợp ung thư phổi làm phá vỡ sự cân bằng khoáng chất trong cơ thể, dẫn đến thừa canxi máu. Nếu không làm xét nghiệm, bạn sẽ khó nhận ra sự thay đổi này. Các triệu chứng đi cùng với canxi máu cao là đi tiểu thường xuyên, khát nước, táo bón, buồn nôn, đau bụng, chóng mặt…

Theo Women’s Health, ung thư phổi là sát thủ đe dọa tính mạng hàng đầu ở cả hai giới tại Mỹ. 20% số người chết vì bệnh này dù chưa từng hút thuốc. Ung thư phổi thường khó phát hiện, dễ nhầm lẫn, nhanh di căn. Bác sĩ Robert McKenna tại Mỹ cho biết ngoài hút thuốc lá, thủ phạm gây bệnh bao gồm tiếp xúc với radon, một chất khí không mùi thường thấy trong nhà, ô nhiễm không khí, khói thuốc lá, chất độc hại từ môi trường như amiăng…

Lê Phương – vnexpress

Sức Khỏe

Người mắc ung thư ngày càng nhiều, chuyên gia khuyên làm ngay 10 điều sau để phòng tránh

Ung thư là bệnh có thể phòng tránh và giảm tỉ lệ mắc bệnh, nhưng nhiều người không để ý điều này. 3 chuyên gia ung thư nổi tiếng Trung Quốc đưa ra 10 lời khuyên giúp bạn thực hiện. Càng ngày, tỉ lệ người mắc bệnh ung thư càng tăng lên đều đặn gây lo […]
21

Ung thư là bệnh có thể phòng tránh và giảm tỉ lệ mắc bệnh, nhưng nhiều người không để ý điều này. 3 chuyên gia ung thư nổi tiếng Trung Quốc đưa ra 10 lời khuyên giúp bạn thực hiện.

Càng ngày, tỉ lệ người mắc bệnh ung thư càng tăng lên đều đặn gây lo lắng cho cộng đồng. Việc phòng tránh ung thư lại chưa được quan tâm đúng mực.

Sau đây là chia sẻ của 3 chuyên gia ung bướu đầu ngành Trung Quốc về phương pháp phòng ung thư hiệu quả, ai cũng có thể thực hiện để góp phần đẩy lùi “đại dịch” này.

Ông Hách Hy Sơn, Viện sĩ, Hội trưởng Hiệp hội chống ung thư Trung Quốc, Viện trưởng Viện nghiên cứu Ung thư Thiên Tân (TQ)

Ông Tôn Yên, Viện sĩ, Bác sĩ, Trưởng khoa Ung bướu bệnh viện Ung thư thuộc viện Khoa học Y học Trung Quốc.

Ông Tăng Ích Tân, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc, Giám đốc Bệnh viện Bắc Kinh (TQ)

Người mắc ung thư ngày càng nhiều, chuyên gia khuyên làm ngay 10 điều sau để phòng tránh - Ảnh 2.

1. Kiên quyết phản đối việc mua thuốc uống phòng ung thư 

Viện sĩ Sơn cho rằng, ông đặc biệt phản đối việc mọi người mua các chế phẩm thuốc phòng ung thư về uống và coi đó là cách tốt nhất.

Ông cho rằng, chỉ có chế độ ăn uống hợp lý mới mang lại hiệu quả trong việc ngăn ngừa ung thư. Hãy ăn nhiều trái cây và rau quả, không bao gồm dưa chua, đồ muối chua đã khú.

Đừng ăn thức ăn bị mốc, hạn chế ăn các loại thực phẩm chế biến sẵn, không ăn thức ăn chứa chất bảo quản, thực phẩm bị cháy.

Ăn nhiều thức ăn từ thực vật, tối thiểu mỗi ngày nên ăn 400 gam rau củ và trái cây.

Ông nhấn mạnh rằng, nếu bạn duy trì thói quen sinh hoạt thiếu lành mạnh, không có loại thuốc phòng ung thư nào có thể chống lại bệnh tật tấn công.

2. Không ăn nhiều thực phẩm chiên rán

Thực phẩm chiên rán ở nhiệt độ cao có thể sản xuất ra các chất gây ung thư, hãy cố gắng ăn càng ít càng tốt.

Dầu ăn chiên đi rán lại nhiều lần có chứa một lượng lớn axit béo trans, nếu ăn vào sẽ gây ra thiệt hại lớn cho cơ thể.

Chẳng hạn như gan nhiễm mỡ, tăng huyết áp, viêm túi mật, các vấn đề dạ dày, tiểu đường, béo phì, và thậm chí có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và các bệnh ung thư khác nhau.

3. Tuân thủ nguyên tắc ăn bữa tối tại nhà 

Viện sĩ Tôn Yên năm nay đã 86 tuổi, ông nói rằng không hiểu tại sao nhiều người lại thích bàn công việc trong bữa tối, và bữa ăn đó cứ phải diễn ra ở nhà hàng.

Việc nhiều người thích bàn công việc trong khi ăn dẫn đến một thói quen xấu chính là kéo dài bữa ăn. Thậm chí những người được cho là thành công thường hiếm khi ăn tối tại nhà.

Thói quen đó sinh ra chứng ăn uống thất thường, hút thuốc lá trong khi ăn, uống rượu và ăn quá nhiều một cách vô thức trong bữa tối khiến cho dạ dày luôn trong tình trạng bị quá tải, cộng với việc thừa cân, về lâu dài có thể gây ung thư.

Viện sĩ Yên cũng kêu gọi tất cả mọi người rằng hãy thương xót dạ dày của mình, trân trọng cơ thể và tránh xa tác nhân gây ung thư, bắt đầu từ việc về nhà để ăn bữa tối.

Người mắc ung thư ngày càng nhiều, chuyên gia khuyên làm ngay 10 điều sau để phòng tránh - Ảnh 3.

Ông Tôn Yên, Viện sĩ, Bác sĩ, Trưởng khoa Ung bướu bệnh viện Ung thư thuộc viện Khoa học Y học Trung Quốc.

4. Đừng tiếc rẻ thức ăn thừa

Nhiều người có thói quen tiết kiệm, điều đó không sai, thức ăn thừa thường sẽ để dành bữa sau ăn tiếp. Tuy nhiên đó là thói quen của thời khó khăn, nay kinh tế đã khá hơn thì chúng ta không nên làm vậy.

Nếu tiếc rẻ mà ăn lại đồ ăn cũ, chúng ta không biết rằng thói quen này có thể gây ung thư dạ dày. Tốt nhất bạn nên chế biến thực phẩm vừa đủ ăn để không phải ăn đồ thừa để qua đêm.

Viện sĩ Yên cho biết, trước đây Nhật Bản là nước có tỉ lệ người mắc bệnh ung thư cao hàng đầu, nhưng sau này dần dần giảm xuống nhanh chóng. Mặc dù người Nhật thích ăn thực phẩm tươi/thô, nhưng họ rất ít dùng thức ăn bảo quản tủ lạnh.

Để phòng chống bệnh ung thư, người Nhật đã phổ biến quy trình khám dạ dày cho các nhân viên y tế. Khi khám đường tiêu hóa nếu thấy có vấn đề bất thường thì lập tức nội soi dạ dày để kiểm tra.

Điều này góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày, chẩn đoán sớm với tỷ lệ đạt 50%, tỷ lệ chữa khỏi đã tăng lên rất nhiều.

5. Người gầy 1 chút thì nguy cơ mắc ung thư ít hơn 

Người gầy thì nguy cơ mắc ung thư ít hơn người béo, đó là khuyến cáo đầu tiên trong 10 nội dung kiến nghị phòng ung thư của nhóm nghiên cứu gồm 21 nhà khoa học thế giới nghiên cứu trong 5 năm về bệnh ung thư.

Cơ quan nghiên cứu Ung thư Thế giới cũng chỉ ra rằng, có đủ bằng chứng để chứng minh béo phì liên quan đến 5 loại bệnh ung thư gồm ung thư đại tràng, thực quản, thận, vú và tử cung.

Theo quan điểm của viện sĩ Yên thì hơi đói sẽ tốt hơn là quá no, hơi gầy sẽ tốt hơn là quá béo.

Phương pháp giảm béo hiệu quả của viện sĩ Yên chính là chỉ ăn uống ở mức 70% nhu cầu. Bí quyết ăn ít, tránh bị thức ăn hấp dẫn tốt nhất là khi bạn có cảm giác hơi no thì dừng lại ngay và rời khỏi bàn ăn.

Nếu như tiếp tục ngồi ở bàn ăn và trò chuyện, ngay lập tức bạn sẽ thèm ăn tiếp và ăn mất kiểm soát. Lâu ngày sẽ sinh ra thừa cân. Thậm chí, thi thoảng bạn cũng nên ăn tối thật ít, qua loa vào bữa tối.

6. Tuân thủ lịch khám sức khỏe hàng năm

Việc kiểm tra y tế mỗi năm một lần là cách quan trọng nhất giúp phát hiện sớm ung thư. Tuy nhiên cơ thể và sức khỏe mỗi người mỗi khác, nếu cẩn thận thì bạn nên khám sức khỏe 2 lần/năm.

Sở dĩ chuyên gia khuyên điều này là vì một số bệnh ung thư tiềm ẩn có tỉ lệ tương đối cao, đôi khi sẽ không thể phát hiện ra bệnh trong 1 lần kiểm tra sức khỏe.

Ví dụ, chỉ một nửa số bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn đầu có thể được phát hiện thông qua chụp X-quang, xét nghiệm đờm, phần còn lại đã bị bỏ qua bệnh trong khi khám lần 1.

Vì vậy, việc tăng số lần kiểm tra y tế đối với đối tượng đáng nghi ngờ là cơ hội phát hiện sớm các mầm ung thư ẩn mà trước đó chưa được phát hiện.

Người mắc ung thư ngày càng nhiều, chuyên gia khuyên làm ngay 10 điều sau để phòng tránh - Ảnh 4.

Ông Hách Hy Sơn, Viện sĩ, Hội trưởng Hiệp hội chống ung thư Trung Quốc, Viện trưởng Viện nghiên cứu Ung thư Thiên Tân (TQ)

7. Đừng để thói quen xấu gây ung thư

Viện sĩ Tôn Yên cho rằng, nhiều khối u được cho là được sinh ra từ những thói quen xấu của mỗi người.

Ví dụ như việc duy trì chế độ ăn uống quá mức chất béo như thịt, trong khi ăn rau quả quá ít là nguyên nhân chính khiến ngày càng nhiều bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng.

Người hút thuốc càng tăng bao nhiêu sẽ dẫn đến nhiều người “hút thuốc thụ động” bị ung thư phổi vô tội bấy nhiêu. Trên thực tế, tất cả những thói quen xấu chúng ta đều có thể kiểm soát và hạn chế.

Hãy phát triển những thói quen tốt một cách thường xuyên, duy trì một tốc độ sống tốt, ngủ đủ giấc, bữa ăn phù hợp, tập thể dục đều, không hút thuốc và uống rượu.

8. Tập thể dục bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào

Các chuyên gia từ lâu đã nhận ra rằng, việc hoạt động thể chất liên quan đặc biệt đến sức khỏe con người. Họ thường ít đi xe, ưu tiên đi bộ càng nhiều càng tốt.

Viện sĩ Yến cho rằng, tập thể dục có thể thay đổi mọi thứ. Chúng ta có thể đi bộ, bơi lội, bất kỳ môn thể dục nào, miễn là cần nhận thấy sự vận động luôn tốt hơn ngồi yên.

Bất kỳ thời gian nào, không gian nào bạn đều nên vận động, đừng cầu kỳ phải tập khi đủ điều kiện.

9. Cam thảo pha nước uống là loại thuốc chống ung thư tốt nhất

Cam thảo có tác dụng dung hòa tất cả các loại thuốc. Trong đó có thể giải độc hiệu quả và kháng ung thư một cách rõ ràng.

Từ 2000 năm trước, trong cuốn “Thần Nông bản thảo kinh” của Trung Quốc đã viết rằng, cam thảo chính là loại thuốc “bề trên” nổi bật nhất trong tất cả các loại thuốc Đông y.

Cam thảo giúp xương gân chắc khỏe, cơ bắp lớn dài hơn, tăng cường hơi thở (khí lực mạnh) giải độc mạnh mẽ.

Mỗi ngày dùng 10 gam cam thảo, đun thành nước để uống như uống trà.

Người mắc ung thư ngày càng nhiều, chuyên gia khuyên làm ngay 10 điều sau để phòng tránh - Ảnh 5.

Ông Tăng Ích Tân, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc, Giám đốc Bệnh viện Bắc Kinh (TQ)

10. Học cách hài lòng và buông bỏ

Kinh nghiệm tiếp xúc lâm sàng với hàng triệu bệnh nhân ung thư trong suốt hàng chục năm làm bác sĩ ung bướu, viện sĩ Tôn Yên học được một điều rằng, tâm tính thanh thản là điều quan trọng để phòng bệnh.

Mỗi bệnh nhân ung thư đều có một câu chuyện riêng, nhưng họ đều có một điểm chung là áp lực, trầm cảm lâu dài, lo lắng quá mức, những suy nghĩ triền miên về một vấn đề khó giải quyết nào đó.

Trong quá khứ, các chuyên gia y tế cũng đặt câu hỏi liệu yếu tố tâm lý có liên quan đến bệnh ung thư hay không, và câu trả lời là có.

Một nghiên cứu cho thấy rằng, những cảm xúc tiêu cực lâu dài làm cho cơ thể sản xuất ra stress, phản ứng stress quá mạnh sẽ làm giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể, từ đó tạo điều kiện tốt nhất cho các tế bào ung thư hình thành.

Cuộc sống hiện đại có rất nhiều áp lực, nhưng chúng ta nên buông bỏ, học cách biết hài lòng để không tạo căng thẳng, tức giận. Càng hạnh phúc bao nhiêu, bạn càng khỏe mạnh bấy nhiêu.

*Theo Health/QQ

Sức Khỏe

Khổ qua có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe

Khổ qua hay còn gọi là mướp đắng, là loại thực vật có vị đắng, có nguồn gốc từ Châu Á và Nam Mỹ. Đây là loại thực phẩm phổ biến ở Châu Á vì có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe. Khổ qua được xem là phương thuốc điều trị bệnh tiểu đường, […]
15

Khổ qua hay còn gọi là mướp đắng, là loại thực vật có vị đắng, có nguồn gốc từ Châu Á và Nam Mỹ. Đây là loại thực phẩm phổ biến ở Châu Á vì có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe. Khổ qua được xem là phương thuốc điều trị bệnh tiểu đường, được chế thành trà, nước uống (nước ép) hoặc dạng trích xuất.

Khổ qua hay còn gọi là mướp đắng, là loại thực vật có vị đắng, có nguồn gốc từ Châu Á và Nam Mỹ

Dưới đây là một số công dụng tốt cho sức khỏe của khổ qua:

1 – Điều trị cảm lạnh

Khổ qua được dùng để trị sốt và ho do cảm lạnh gây ra nhờ có chứa các thành phần kháng viêm nhiễm, có tác dụng chống lại sự kết đàm và tắc nghẽn đường thở.

2 – Có tác dụng tẩy độc

Khổ qua dùng để chống lại vi khuẩn nhờ có thành phần chống khuẩn mạnh, dùng để làm sạch các vết thương nhỏ, vết bỏng hoặc các vết trầy xước.

3 – Khổ qua giúp hạ đường huyết cao

Khổ qua có tác dụng làm giảm đường huyết cao và chống lại các tác dụng phụ do đường huyết cao gây ra.

4 – Tăng sức đề kháng

Ăn khổ qua giúp loại bỏ các gốc tự do ra khỏi cơ thể và chống lại các sự viêm nhiễm có thể gây tổn hại cho mô và tế bào.

5 – Giúp hạ huyết áp

Khổ qua giúp hạ giảm huyết áp cao nhờ tác dụng giúp hệ tim mạch “thư giãn”, đây là chức năng quan trọng giúp bảo vệ khỏi cơn đau tim hoặc đột quỵ.

6 – Khổ qua làm giảm cơn đau đầu

Khi vùng não bộ bị áp lực, ăn khổ qua giúp làm giảm áp lực này và giải tỏa cơn đau đầu. Ngoài ra, khổ qua còn giúp giảm stress và các áp lực xấu lên tinh thần.

7 – Tốt cho người bị bệnh vẩy nến

Khổ qua tốt cho người mắc bệnh vẩy nến, ngăn ngừa sự nhiễm nấm và lây lan của nấm.

8 – Giúp giải độc gan

Uống nhiều bia rượu và hấp thu các thực phẩm có nhiều độc tố sẽ gây hại cho lá lách và gan. Khổ qua giúp cải thiện và tái kích hoạt các mô trong cơ thể bị tổn hại do độc tố nhờ chứa nhiều enzim có lợi cho hoạt động của gan và lá lách.

9 – Khổ qua giúp kiểm soát cân nặng

Béo phì là nguyên nhân gây ra các bệnh như tiểu đường, huyết áp cao, bệnh tim,… Một số nghiên cứu khoa học khẳng định nước ép khổ qua tinh khiết (không cho đường hoặc các phụ gia khác) giúp ngăn chặn sự hình thành tế bào mỡ.

10 – Khổ qua cũng tốt cho thị lực

Khổ qua giàu beta carotene và các khoáng chất khác, giúp cải thiện các vấn đề về mắt khá hiệu quả.

Huệ Trần (Theo Live Science)

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Tâm người dễ vỡ như vết thương

Đa phần chúng ta đều có tâm ở trạng thái như vết thương, sẵn sàng trào tuôn máu mủ và lở loét thêm mỗi khi đụng vào… Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, dạy các Tỷ kheo: Có ba hạng người này, này các Tỷ kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. […]
15

Đa phần chúng ta đều có tâm ở trạng thái như vết thương, sẵn sàng trào tuôn máu mủ và lở loét thêm mỗi khi đụng vào…

Tâm người dễ vỡ như vết thương

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, dạy các Tỷ kheo:

Có ba hạng người này, này các Tỷ kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với tâm ví dụ như vết thương, với tâm ví dụ như chớp sáng, với tâm ví dụ như kim cang.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người với tâm ví dụ như vết thương? Ở đây, này các Tỷ kheo, có người phẫn nộ, nhiều hiềm hận, dầu có bị nói chút ít, cũng tức tối phẫn nộ, sân hận, sừng sộ, biểu lộ sự phẫn nộ, sân hận và bực tức. Ví như một vết thương đang làm mủ, nếu bị cây gậy hay một miếng sành đánh phải, liền chảy mủ nhiều hơn.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như chớp sáng? Ở đây, này các Tỷ kheo, có hạng người như thật rõ biết: “Ðây là khổ”,…, như thật rõ biết “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Ví như một người có mắt, thấy các sắc trong đêm tối mù mịt, khi có chớp sáng.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như kim cang? Ở đây, này các Tỷ kheo, có hạng người, nhờ đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ kheo, đây gọi là hạng người, với tâm được ví dụ như kim cang.
Ba hạng người này, này các Tỷ kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 3, phẩm Người, phần Vết thương làm mủ [lược], VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.220)

LỜI BÀN:

Trong ba hạng người mà Thế Tôn đã trình bày, chắc chắn rằng chúng ta không phải là hạng người với tâm như kim cang. Vì đó là tâm của các bậc Thánh A la hán đã đoạn tận phiền não, lậu hoặc, hoàn toàn thanh tịnh và giải thoát.

Và đôi khi, tâm của chúng ta chợt lóe sáng, như tia chớp xé tan màn đêm. Tiếc rằng, ánh chớp ấy tuy rất sáng nhưng ngắn ngủi, nên khi vụt tắt rồi thì bóng đêm lại tràn ngập. Khi chúng ta bình tâm, lắng lòng trong sạch thì có thể nhận diện rất rõ về những sự thật ở đời, luôn xảy ra trong cuộc sống xung quanh ta như sự mong manh, vô thường, những khổ đau trong cuộc sống và tình trạng không chủ thể (vô ngã) của tất cả. Những khi thấy được như thế, tâm ta trở nên nhẹ nhàng, bình an và thanh thản hơn trước những lo toan làm giàu, đua tranh, ghét ghen và thù hận… Những phút tâm lóe sáng như thế tuy không nhiều nhưng đã góp phần to lớn nuôi dưỡng tuệ giác và tình thương và vun đắp niềm tin yêu cho cuộc sống.

Còn lại thì đa phần chúng ta đều có tâm ở trạng thái như vết thương, sẵn sàng trào tuôn máu mủ và lở loét thêm mỗi khi đụng vào. Những tham lam, giận dữ gần như có mặt thường xuyên, phản ứng bén nhạy với các môi trường hoàn cảnh cuộc sống. Vì thế, đời sống chúng ta vốn đã vất vả, tất bật cho cho cuộc mưu sinh lại càng căng thẳng, phức tạp thêm. Do đó, chúng ta cần thiết lập đời sống hướng nội, giữ tâm thăng bằng, đồng thời quán sát sâu sắc hơn về thân tâm và cuộc sống để cho tâm được lóe sáng.

QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Chấp thủ thân này là cội nguồn khổ đau

Có mặt ở đời từ căn nguyên ái dục nên con người ai cũng tham dục. Khát ái, tham vọng của con người vốn vô tận, không có điểm dừng… Chấp thủ thân này là cội nguồn khổ đau Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, rồi Tôn giả Ràdha đi đến đảnh lễ, bạch […]
22

Có mặt ở đời từ căn nguyên ái dục nên con người ai cũng tham dục. Khát ái, tham vọng của con người vốn vô tận, không có điểm dừng…

Chấp thủ thân này là cội nguồn khổ đau

Chấp thủ thân này là cội nguồn khổ đau

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, rồi Tôn giả Ràdha đi đến đảnh lễ, bạch Thế Tôn:

“Chúng sanh, chúng sanh”, bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào được gọi là chúng sanh?
Này Ràdha, dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, thọ tưởng, hành và thức triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, gọi là chúng sanh.

Ví như, này Ràdha, những đứa trẻ chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với căn nhà bằng đất ấy lòng tham, ái, dục chưa thoát ly thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa và đắm trước những căn nhà bằng đất ấy.

Nhưng khi nào những đứa trẻ ấy đối với những căn nhà bằng đất kia, lòng tham, ái, dục đã thoát ly, thời với tay và chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
Cũng vậy, này Ràdha, ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, thọ, tưởng, hành và thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc, thọ, tưởng, hành và thức.
Đoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết bàn.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ III, chương 2, phẩm 1, phần Chúng sanh, Nxb Tôn Giáo, 2000, tr.331)

LỜI BÀN:

Thế giới của chúng ta đang sống thuộc cõi dục. Dựa trên nền tảng ái dục mà con người có mặt ở đời. Tất cả những biểu hiện về tư duy, ngôn ngữ và hành động của con người luôn gắn liền với tham ái, vì thế chúng ta được gọi là chúng sanh.

Có mặt ở đời từ căn nguyên ái dục nên con người ai cũng tham dục. Khát ái, tham vọng của con người vốn vô tận, không có điểm dừng. Tuy vậy, tham ái thân này mới thực sự sâu dày, nặng nề nhất. Tất cả những việc làm của con người đều không ngoài mục đích phục vụ cho cái tôi, bị trói buộc triền miên với tự ngã, do đó gọi là chúng sanh.

Theo tuệ giác Thế Tôn, chúng sanh luyến ái tự ngã cũng giống như trẻ con nghịch đất, yêu thích những ngôi nhà bằng đất do chúng đắp nên. Lũ trẻ đâu biết rằng cái thiên đường bằng đất thân yêu ấy thật mong manh, dễ vỡ. Cũng vậy, thân tâm này là của tôi, là nhất, là bất khả xâm phạm… nhưng sự thật thì thân tâm này có đó rồi không đó, sinh già bệnh chết chi phối mãnh liệt mà chẳng ai có thể làm gì khác được.

Khi nào nhận chân được cái tự ngã mà ta thương yêu nhất chỉ là một hợp thể năm uẩn, vốn duyên sinh và hoàn toàn vô ngã, lúc đó con người có khả năng làm suy giảm, đoạn tận tham ái và chấp thủ. Như lũ trẻ kia, nhàm chán ngôi nhà bằng đất, không còn yêu thích nữa thì tự tay chúng đập phá. Cũng vậy, thiền quán và tuệ tri về sự thật duyên khởi của năm uẩn là phương cách hữu hiệu để diệt trừ khát ái. Chấm dứt tham ái, không còn bị trói buộc với tự ngã, đó chính là giải thoát, Niết bàn.

QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Phật dạy: Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với ta

Với tuệ giác giải thoát, vạn pháp đều bị chi phối bởi vô thường, là khổ và hoàn toàn vô ngã. Đó là một sự thật khách quan, là cái thấy biết và chứng tri của bậc Giác ngộ về các pháp… Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, dạy các Tỷ kheo: Này các […]
20

Với tuệ giác giải thoát, vạn pháp đều bị chi phối bởi vô thường, là khổ và hoàn toàn vô ngã. Đó là một sự thật khách quan, là cái thấy biết và chứng tri của bậc Giác ngộ về các pháp…

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, dạy các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ kheo, người nói pháp không tranh luận với bất cứ một ai ở đời.
Này các Tỷ kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là không, Ta cũng nói là không; cái gì người có trí ở đời chấp nhận là có, Ta cũng nói có.
Và này các Tỷ kheo, người có trí ở đời không chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành và thức là thường còn, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là không.
Này các Tỷ kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là không, Ta cũng nói là không.
Này các Tỷ kheo, người có trí ở đời chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là có vậy.
Này các Tỷ kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là có, Ta cũng nói là có.

Ở trong đời, này các Tỷ kheo, có thế pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị.
Sắc thọ tưởng hành và thức, này các Tỷ kheo, là thế pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị. Và những ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị như vậy, vẫn không biết, không thấy, với người ấy, Ta xem là phàm phu, mù lòa, không có mắt.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ III, chương 1, phẩm Hoa, phần Bông hoa [lược], Nxb Tôn Giáo, 2000, tr.249)

LỜI BÀN:

Thế Tôn tuyên thuyết giáo pháp dựa trên nền tảng tuệ giác mà Ngài đã chứng ngộ. Vì thế, giáo pháp không phải là sản phẩm của tư duy, thiên về luận lý như một học thuyết mà đơn thuần chỉ là những kinh nghiệm về con đường vượt thoát khổ đau, là trải nghiệm của người đã đi qua và đã chứng đạt.

Với tuệ giác giải thoát, vạn pháp đều bị chi phối bởi vô thường, là khổ và hoàn toàn vô ngã. Đó là một sự thật khách quan, là cái thấy biết và chứng tri của bậc Giác ngộ về các pháp. Vì thế, khi tuyên thuyết có và không, Thế Tôn vẫn giữ một lập trường duy nhất là năm uẩn đều không, vô thường và vô ngã.

Tất nhiên, đối với những ai đã từng chấp nhận có một tự ngã, cái tôi hay linh hồn trường cửu, bất biến thì tuyên bố về sự thật vô ngã của Thế Tôn quả là sấm sét. Nhưng không phải ai cũng có đủ duyên lành để có thể mở to đôi mắt trần thế nhìn thẳng vào sự thật, thấy rõ sự vận động tương tục không gián đoạn và tính chất duyên sinh của năm uẩn. Vì thế, ngoài những bậc trí còn lại đa phần chúng ta tuy có mắt mà như mù.

Có và không chỉ là thế pháp, vì thuận theo thế gian trong sự thật tương đối Thế Tôn có thể nói có và không nhưng cốt tủy của sự chứng tri vẫn là các pháp đều KHÔNG.

QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống
Phật Học

Ta khổ vì hay suy nghĩ linh tinh

Khi tư duy đạt đến sự trong sáng, thuần thiện, tâm ý sẽ thanh tịnh. Sự suy niệm sâu sắc, đúng đắn sẽ định hướng cho lời nói và việc làm hợp với điều thiện… Ta khổ vì hay suy nghĩ linh tinh Một thời, một Tỷ kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một […]
11

Khi tư duy đạt đến sự trong sáng, thuần thiện, tâm ý sẽ thanh tịnh. Sự suy niệm sâu sắc, đúng đắn sẽ định hướng cho lời nói và việc làm hợp với điều thiện…

Ta khổ vì hay suy nghĩ linh tinh

Ta khổ vì hay suy nghĩ linh tinh

Một thời, một Tỷ kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

Lúc bấy giờ, Tỷ kheo ấy, khi đang nghĩ ban ngày, khởi lên những tư duy ác, bất thiện như dục tư duy, sân tư duy và hại tư duy.
Rồi vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót, vì muốn lợi ích, muốn cảnh giác liền đi đến nói lên bài kệ cho Tỷ kheo: “Ông tác ý bất chánh/Nên say đắm tư duy/Hãy từ bỏ bất chánh/Hãy tư duy chơn chánh/Nương tựa Phật Pháp Tăng/Giữ giới, không thối chuyển/Ông chắc chắn chứng đạt/Hân hoan và hỷ lạc/Với hân hoan sung mãn/Ông chấm dứt khổ đau”.
Tỷ kheo ấy, sau khi được vị Thiên cảnh giác, tâm hết sức xúc động.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, chương 9, phần Bất chánh tư duy, VNCPHVN ấn hành, 1993, tr.446)

LỜI BÀN:
Khi phát tâm tu học, điều quan trọng là nguyện chuyển hóa và thăng hoa ba nghiệp thân khẩu ý. Đoan chính trong lời nói và hành động vốn đã khó nhưng chính trực trong tư duy, suy niệm lại càng khó hơn. Tuy tâm ý khó làm chủ nhưng không thể buông xuôi, bởi tư duy chân chính sẽ là nền tảng cho lời nói và hành động đúng đắn.

Điều thú vị là lời nói và hành động của ta, người khác có thể quan sát, đánh giá và bình phẩm nhưng tâm ý của mình thì chỉ tự mình biết lấy mà thôi. Ngoại trừ Phật, Bồ tát, chư Thiên và bản thân, không ai biết mình đang nghĩ gì. Dù suy tư là điều “chỉ mình ta với ta” nhưng vẫn tạo nghiệp, ý nghiệp. Khi tư duy không chính trực, tà vạy thì tham sân si, ba nghiệp ác về ý dấy khởi, làm vẩn đục đời sống tịnh nghiệp.

Để giữ gìn tâm ý ngay thẳng và thánh thiện, người con Phật luôn hướng đến Chánh tư duy. Luôn suy tư về điều thiện để làm lợi ích cho mình và người, hằng tư duy về Chánh pháp, công hạnh của Phật, Bồ tát và các vị Cao tăng để noi theo. Ngoài ra, cần phải nhớ rằng tất cả những điều thầm kín trong tâm ý của mình, chư Phật, Bồ tát, chư Thiên, Hộ pháp và ma quỷ đều biết rõ. Do đó, để nhận được sự hộ niệm của chư vị, người tu cần phải tịnh hóa tư duy của mình bằng sự hổ thẹn, tự trách và đưa tâm về quỹ đạo tư duy chân chính.

Khi tư duy đạt đến sự trong sáng, thuần thiện, tâm ý sẽ thanh tịnh. Sự suy niệm sâu sắc, đúng đắn sẽ định hướng cho lời nói và việc làm hợp với điều thiện. Ngược lại, những tư duy tà vạy, bất chính hướng về tham vọng, làm hại sẽ dẫn dắt con người đi vào đường ác. Vì thế, cần phải tự uốn nắn, điều chỉnh bản thân bắt đầu từ nền tảng tư duy chân chính.
QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Tu học phải song hành

Theo tuệ giác Thế Tôn, có bốn hạng người tu học giống như bốn loại chuột. Hạng người thứ nhất “có đào hang, không ở” tức học nhưng không hành…   Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, gọi các Tỷ kheo: Này các Tỷ kheo, có bốn loại chuột này. Thế nào […]
29

Theo tuệ giác Thế Tôn, có bốn hạng người tu học giống như bốn loại chuột. Hạng người thứ nhất “có đào hang, không ở” tức học nhưng không hành…

 

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, gọi các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, có bốn loại chuột này. Thế nào là bốn?
Ðào hang không ở, ở không đào hang, không đào hang không ở, có đào hang có ở. Này các Tỷ kheo, có bốn loại chuột này.
Cũng vậy, này các Tỷ kheo, có bốn hạng người được ví dụ với các loại chuột này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ðào hang không ở, ở không đào hang, không đào hang không ở, có đào hang có ở. Này các Tỷ kheo, có bốn hạng người này.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người có đào hang, không ở?

Ở đây, này các Tỷ kheo, có hạng người thuộc lòng pháp như Khế kinh… Quảng thuyết. Vị ấy không như thật quán tri: “Ðây là Khổ”, “Ðây là Khổ tập”, “Ðây là Khổ diệt”, “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ kheo, là hạng người đào hang nhưng không ở.
Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người có ở, không đào hang?
Ở đây, này các Tỷ kheo, có hạng người không có học thuộc lòng pháp, như Khế kinh… Quảng thuyết. Vị ấy như thật quán tri: “Ðây là Khổ”, “Ðây là Khổ tập”, “Ðây là Khổ diệt”, “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ kheo, là hạng người có ở, không đào hang.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người không đào hang, không ở?

Ở đây, này các Tỷ kheo, có hạng người không học thuộc lòng pháp như Khế kinh… Quảng thuyết. Vị ấy không như thật quán tri: “Ðây là Khổ”, “Ðây là Khổ tập”, “Ðây là Khổ diệt”, “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ kheo, là hạng người không đào hang, không ở.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người có đào hang, có ở?

Ở đây, này các Tỷ kheo, có hạng người học thuộc lòng pháp như Khế kinh… Quảng thuyết. Người ấy như thật quán tri: “Ðây là Khổ”, “Ðây là Khổ tập”, “Ðây là Khổ diệt”, “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ kheo, là hạng người có đào hang, có ở.

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 4, phẩm Mây mưa, phần Các loại chuột [lược], VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.18)

LỜI BÀN:

Hiện nay, người đi chùa ngày một nhiều, những dịp lễ lộc vô cùng nhộn nhịp và đông đúc. Đi chùa, lễ Phật, cầu nguyện Tam bảo gia hộ là điều tốt, song quan trọng hơn là học tập và ứng dụng giáo pháp để tự hoàn thiện mình, mới mong thiết lập bình an và hạnh phúc đích thực.

Theo tuệ giác Thế Tôn, có bốn hạng người tu học giống như bốn loại chuột. Hạng người thứ nhất “có đào hang, không ở” tức học nhưng không hành. Hạng người này khá am tường giáo lý nhưng chỉ nói suông, không áp dụng những điều đã học vào thực tiễn cuộc sống. Hạng người thứ hai “có ở, không đào hang” tuy không biết nhiều và rành rẽ giáo pháp nhưng có thực hành những gì đã học. Hạng người thứ ba “không đào hang, không ở” tức không học giáo pháp và cũng chẳng thực hành. Và hạng người thứ tư “có đào hang, có ở”, tức tu học song hành.

Trong sự tu học, tìm hiểu và thực hành giáo pháp là hai yếu tố cực kỳ quan trọng. Vì thế, một khi đã có đức tin vào Tam bảo thì ngoài vấn đề cầu nguyện và lễ bái ra, người con Phật cần chú trọng đến học tập và hành trì lời Phật dạy. Giống như hai cánh của loài chim giúp nó bay lượn thoải mái trên bầu trời, cũng vậy song hành học tập và hành trì giáo pháp sẽ giúp người học Phật vượt thoát khổ đau, thăng hoa trong cuộc sống.

QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Năm hạng người ăn bình bát

Trong năm hạng người ăn từ bình bát, Thế Tôn tán thán hạng người ăn bình bát vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành… Một thời, Thế Tôn ở Kosala, Ngài cho gọi các Tỷ kheo: Này các Tỷ kheo, có năm hạng người ăn từ […]
21

Trong năm hạng người ăn từ bình bát, Thế Tôn tán thán hạng người ăn bình bát vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành…

Một thời, Thế Tôn ở Kosala, Ngài cho gọi các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, có năm hạng người ăn từ bình bát này. Thế nào là năm?
Hạng đần độn ngu si ăn từ bình bát; hạng ác dục ác tánh ăn từ bình bát; hạng kiêu mạn loạn tâm ăn từ bình bát; hạng ăn từ bình bát vì được nghe Thế Tôn và các đệ tử Phật tán thán; hạng vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này, ăn từ bình bát.
Trong năm hạng người ăn từ bình bát, này các Tỷ kheo, hạng ăn từ bình bát vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này là đệ nhất, là tối thắng, là thượng thủ.
Ví như, này các Tỷ kheo, từ con bò có sữa, từ sữa có lạc, từ lạc có sanh tô, từ sanh tô có thục tô, từ thục tô có đề hồ. Đây được gọi là đệ nhất. Cũng vậy, này các Tỷ kheo, trong năm hạng người ăn từ bình bát, hạng ăn từ bình bát vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này là đệ nhất, là tối thắng, là thượng thủ.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 5, phẩm Rừng, phần Ăn từ bình bát, VNCPHVN ấn hành 1996, tr.666)

LỜI BÀN:

Chư Tỷ kheo ôm bình bát khất thực vào mỗi buổi sáng là hình ảnh đẹp và quen thuộc đối với những địa phương có chư Tăng Phật giáo Nam tông. Phật giáo Bắc tông tuy không trì bình khất thực nhưng mỗi năm vào mùa An cư chư vị Tỷ kheo vẫn giữ truyền thống thọ bát.

Theo quan điểm của Thế Tôn thì thành phần của những người thọ bát này rất đa dạng, có đến năm hạng. Điều này cũng dễ hiểu bởi chúng sanh căn tánh và nghiệp lực sai biệt. Do vậy, dẫu xuất gia rồi nhưng trong quá trình phấn đấu chuyển nghiệp để đạt đến sự hoàn thiện thì một số người còn những biểu hiện của sự tồn tại, hạn chế xuất phát từ nghiệp là tất nhiên. Tuy cùng hình thức xuất thế, đầu tròn áo vuông, ba y một bát nhưng trong bản chất thì mỗi Tỷ kheo phải phấn đấu để khắc phục nghiệp dĩ của chính mình. Có người nặng về nghiệp si, nghiệp tham, nghiệp sân hoặc nặng về danh vọng và cung kính… nói chung là những chướng ngại cho tiến trình thăng hoa và thanh tịnh tâm.

Trong năm hạng người ăn từ bình bát, Thế Tôn tán thán hạng người ăn bình bát vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành. Bởi đây là những Tỷ kheo hạt giống, là tiềm năng cho quả vị A la hán. Vì muốn ít và biết đủ là nền tảng căn bản của việc đoạn trừ tham, một phiền não làm nên bản chất của chúng sanh. Đoạn giảm là nỗ lực chế ngự dần đến triệt tiêu những chướng ngại của phiền não. Viễn ly là xa lìa những ảnh hưởng và tác động của thế tục để hướng đến sự thanh tịnh đồng thời tận lực làm tất cả những điều lành để phát triển thiện nghiệp. Vì lẽ ấy mà những Tỷ kheo nào thực hành đầy đủ các công hạnh này thì được Thế Tôn tán thán là thượng thủ, đệ nhất.

Từ sữa qua quá trình tinh luyện sẽ thành đề hồ. Cũng vậy, từ năm hạng người ăn bát, nếu chư Tỷ kheo biết tinh tấn tu học, nhất là trong những mùa an cư thì sẽ còn một hạng duy nhất, đó là hạng thượng thủ, tối thắng. Đây cũng là bản hoài của Thế Tôn đối với hàng Thích tử trong thời Ngài tại thế và mãi cho đến tận hôm nay.

QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Cái gì là báu vật ở đời?

Theo tuệ giác Thế Tôn thì quý giá nhất ở đời không phải là vàng bạc, châu báu… mà chính là người giác ngộ, người hướng dẫn và thực tập để thành tựu sự giác ngộ, người biết ơn và nhớ ơn… Cái gì là báu vật ở đời? Một thời, Thế Tôn trú ở […]
18

Theo tuệ giác Thế Tôn thì quý giá nhất ở đời không phải là vàng bạc, châu báu… mà chính là người giác ngộ, người hướng dẫn và thực tập để thành tựu sự giác ngộ, người biết ơn và nhớ ơn…

Cái gì là báu vật ở đời?

Cái gì là báu vật ở đời?

Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tại Ðại Lâm, chỗ giảng đường có nóc nhọn. Lúc bấy giờ, khoảng 500 người Licchavì đang ngồi tụ họp tại đền Sàrandada, và câu chuyện về sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời được khởi lên.

Rồi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, các người Licchavì đảnh lễ, bạch Thế Tôn:

Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con đang ngồi tụ họp, vấn đề này được khởi lên: Sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Và thế nào là năm? Sự hiện hữu của voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu và cư sĩ báu là khó tìm được ở đời.

Ðối với các ông, người Licchavì đang thiên nặng về dục, cuộc nói chuyện y cứ trên dục được khởi lên. Này các Licchavì, sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Và thế nào là năm?
Sự hiện hữu của Như Lai, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác; Người có thể thuyết giảng Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố; Người hiểu được lời thuyết giảng về Pháp là Luật do Như Lai tuyên bố; Người đem thực hành các pháp và tùy pháp được hiểu từ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố; Người biết ơn và nhớ ơn là khó tìm được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu này, này các Licchavì, khó tìm được ở đời.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 5, phẩm Tikandaki, phần Tại đền Sàrandada [lược], VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.583)

LỜI BÀN:

Thường những gì quý hiếm thì có giá trị cao, mọi người đều mơ ước chiếm giữ làm tài sản cho riêng mình. Sở hữu nhiều vật quý giá là một trong những thước đo về sự giàu có, thành đạt, đẳng cấp xã hội. Ngày xưa những người Licchavì hay bàn bạc về những vật quý giá như voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu thì cũng giống như chúng ta ngày nay thường bàn về xe hơi, nhà lầu, chứng khoán, ngoại tệ, vợ đẹp, con xinh, ăn ngon, mặc đẹp v.v… Hầu hết mọi người đều quan tâm đến những vấn đề này.

Cái gì là báu vật ở đời?

Cái gì là báu vật ở đời?

Đành rằng những thứ người ta hay bàn bạc, quan tâm và mơ ước được sở hữu đều quý giá nhưng ít ai lưu tâm đến vấn đề cái gì là thực sự quý giá nhất, có giá trị nhất ở cõi đời này. Và ngay đây sẽ phát xuất nhiều đáp án khác nhau tùy thuộc vào quan niệm sống, nghiệp lực và tuệ giác của mỗi người. Hầu hết những người chính chắn, từng trải đều nhận ra rằng những vật ngoài thân như tiền bạc, nhà cửa, xe cộ… cũng quý nhưng chỉ có giá trị tương đối mà thôi. Bởi có khá nhiều người sở hữu được nhiều thứ nhưng vẫn khổ đau, không có hạnh phúc.

Theo tuệ giác Thế Tôn thì quý giá nhất ở đời không phải là vàng bạc, châu báu… mà chính là người giác ngộ, người hướng dẫn và thực tập để thành tựu sự giác ngộ, người biết ơn và nhớ ơn. Tâm an lạc thảnh thơi không còn bị tham dục, phiền não khổ đau chi phối mới thật sự quý báu. Do vậy, người con Phật ngoài những công việc làm ăn cần thiết cho cuộc sống, cần phải dốc sức tu dưỡng, chuyển hóa thân tâm để thiết lập đời sống bình an, hạnh phúc.

QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Phải cày ruộng mới mong có cơm ăn

Này Bà la môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn. Nhưng chúng tôi không hề thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi cày, cây gậy hay các con bò của ông. Ông nói là nông phu nhưng không hề thấy ông cày cấy. Hãy nói cho […]
11

Này Bà la môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn. Nhưng chúng tôi không hề thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi cày, cây gậy hay các con bò của ông. Ông nói là nông phu nhưng không hề thấy ông cày cấy. Hãy nói cho chúng tôi biết là ông thực sự có cày cấy.

Phải cày ruộng mới mong có cơm ăn

Phải cày ruộng mới mong có cơm ăn

Này Bà la môn: Lòng tin là hạt giống, khổ hạnh là mưa móc, trí tuệ đối với ta là cày và ách mang, tàm quý là cán cày, ý căn là dây cột, chánh niệm đối với ta là lưỡi cày, gậy đâm… đưa ta tiến dần đến, an ổn khỏi ách nạn, đi đến không trở lui, chỗ ta đi không sầu. Như vậy cày ruộng này, đưa đến quả bất tử, sau khi cày ruộng này, mọi đau khổ được thoát.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, chương 7, phẩm Cư sĩ, phần Cày ruộng, VNCPHVN ấn hành, 1993, tr. 377)

LỜI BÀN:
Không phải ngày nay mà từ thời Thế Tôn tại thế, đời sống thánh thiện, cao cả của người xuất gia chưa hẳn được đại đa số dân chúng hiểu rõ để tán thán và tôn vinh. Thảng hoặc đây đó vẫn phảng phất những quan điểm lệch lạc rằng tu sĩ là những thành phần lười biếng lao động, ăn bám và là gánh nặng của xã hội. Quan niệm thiển cận của Bà la môn Kasi Bhàradvàja là một điển hình.

Thế Tôn đã khẳng định rõ lập trường rằng Ngài và những đệ tử xuất gia của Ngài là những người lao động chân chính. Thành quả lao động của Thế Tôn là hoàn thiện tự thân, giải thoát giác ngộ đã ảnh hưởng tích cực đến xã hội, góp phần hướng thiện giúp ổn định và phát triển xã hội.

Tuy không cày ruộng và gieo mạ nhưng Ngài vẫn là một nông phu thực thụ vì đã cày xới đất tâm, gieo trồng hạt giống Thánh nhân và gặt hái được hoa trái giải thoát. Vì thế, dâng cúng vật thực cho Thế Tôn và những đệ tử giới đức, đạo hạnh là nghĩa vụ đồng thời là phương thức vun bồi, nâng cao phước báo tự thân của hàng Phật tử. Tuy nhiên, hàng đệ tử xuất gia nếu không hoàn thiện sứ mạng của mình thì rõ ràng không xứng đáng và không có quyền thọ nhận bất cứ sự dâng cúng nào.

Ngày nay, khi người xuất gia ngày một đông, sự dâng cúng của tín đồ ngày càng hậu hĩ thì trách nhiệm của chư Tăng lại càng nặng nề thêm. Pháp thoại giữa Thế Tôn và Bà la môn Kasi Bhàradvàja vẫn còn nóng hổi tính thời sự, là bài học quý báu để Tăng tín đồ Phật tử suy gẫm nhằm sống và tu tập ngày một tinh tấn hơn.

QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Vượt qua vòng xoáy cuộc đời

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại vườn ông Anàthapindika. Rồi một vị Thiên đi đến đảnh lễ, sau khi đãnh lễ, bạch Thế Tôn: – Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu? – Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu. – Thưa Tôn […]
17

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại vườn ông Anàthapindika. Rồi một vị Thiên đi đến đảnh lễ, sau khi đãnh lễ, bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
– Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
– Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?
– Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống; khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt. Do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
Vị Thiên đáp:
Từ lâu, tôi mới thấy
Bà la môn tịch tịnh
Không đứng, không bước tới
Vượt chấp trước ở đời.
(Kinh Tương Ưng Bộ I, chương 1, phẩm Cây lau)

Vượt qua vòng xoáy cuộc đời

SUY NGHIỆM:

Ai đã từng dấn thân khám phá, chinh phục thiên nhiên thì đã có lần băn khoăn trước ghềnh thác hiểm trở, nước xoáy ầm ào (bộc lưu), nghĩ cách vượt qua nó mà không bị nhấn chìm hay cuốn trôi? Bằng tài trí thông minh cùng với sự khéo léo, cuối cùng một số người cũng qua được bờ kia an toàn.
Cũng vậy, đứng trước dòng xoáy cuộc đời với vô vàn cám dỗ và cạm bẫy, hạnh phúc và khổ đau, được mất và hơn thua, yêu thương và thù hận… con người cũng loay hoay, ta phải vượt qua nó bằng cách nào? Một câu hỏi lớn cho không riêng gì loài người mà ngay cả loài Trời cũng phân vân, bối rối.
Thế Tôn đã mượn hình ảnh vượt qua dòng nước chảy xiết đầy hiểm nguy để minh họa cho quá trình tu tập thoát ly phiền não, sanh tử thật sinh động. Chính Ngài đã vượt qua dòng xoáy sanh tử ấy và truyền lại cho hậu thế bằng kinh nghiệm xương máu của mình: Để vượt qua dòng xoáy cuộc đời là không đứng lại và cũng không bước tới, tức sang bờ bên kia.
Có điều là nếu “không đứng lại” thì đi tới và “không bước tới” thì đứng lại chứ không đi cũng không đứng thì biết làm thế nào? Và làm sao không đi tới cũng không đứng lại mà sang được bờ kia? Ấy vậy mà Thế Tôn và các vị Thánh đệ tử của Ngài đã làm được.
Cố nhiên vượt qua ghềnh thác cuộc đời khó hơn bội phần so với thác ghềnh thiên nhiên nên kỷ thuật cũng đặc biệt hơn. Không đứng lại, bởi theo Thế Tôn, nếu đứng lại lập tức bị nhấn chìm. Đứng lại là chấp thủ, bám víu mà làm sao bám víu được khi mọi thứ đang trôi chảy? Bị cột chặt, trói buộc tất phải chìm đắm.
Không bước tới, vì theo Thế Tôn, nếu bước tới sẽ bị cuốn trôi. Bước tới là đắm trước, dính mắc vào trần cảnh, chạy theo sự sai sử của dục vọng mà dục vọng của chúng sanh thì vô tận, không có bến bờ. Dòng xoáy của tham dục sẽ cuốn phăng tất cả, sẵn sàng đạp lên mọi thứ kể cả nhân nghĩa. Một đời lao đao lẫn lộn buồn vui, thành công và thất bại… để rồi ra đi với hai bàn tay trần và chẳng biết về đâu chẳng phải trôi giạt là gì?
Vậy nên, người đệ tử Phật thận trọng vượt qua dòng xoáy cuộc đời bằng chánh niệm tỉnh giác, thấy rõ như thật bản chất giả huyễn và hư ảo của cuộc đời. Không chấp thủ, nhất là không cố bám víu vào tự ngã, nắm giữ cái tôi và cái của tôi nhờ thấy rõ vạn pháp duyên sinh như huyễn. Không đắm trước với mọi thứ, muốn ít và tự biết đủ, làm chủ được mình trước mọi cám dỗ của cuộc đời.
Và cứ như thế, hành giả sang đến bờ bên kia, chấm dứt phiền não, sanh tử, khổ đau.
QUẢNG TÁNH

Uncategorized

Người tu làm gì mà được tôn trọng, cung kính, cúng dường

Hàng ngày, người xuất gia đều thọ nhận sự cung kính và cúng dường, đó là vay, là nợ. Phải làm gì để trả số nợ ấy luôn là điều ưu tư hàng đầu của hàng sơ tâm xuất gia… Người tu làm gì mà được tôn trọng, cung kính, cúng dường Một thời, Thế […]
23

Hàng ngày, người xuất gia đều thọ nhận sự cung kính và cúng dường, đó là vay, là nợ. Phải làm gì để trả số nợ ấy luôn là điều ưu tư hàng đầu của hàng sơ tâm xuất gia…

Người tu làm gì mà được tôn trọng, cung kính, cúng dường

Người tu làm gì mà được tôn trọng, cung kính, cúng dường

Một thời, Thế Tôn trú ờ Sàvatthi, tại khu vườn ông Anàthapindika, gọi các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, thành tựu sáu pháp này, Tỷ kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là sáu?

Ở đây, này các Tỷ kheo, khi mắt thấy sắc, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi tai nghe tiếng, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi mũi ngữi hương, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi lưỡi nếm vị, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi thân xúc chạm, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Khi ý biết pháp, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ III, chương 6, phẩm Đáng được cung kính, phần Đáng được cung kính [1], VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.9)

LỜI BÀN:

Thường thì hàng Phật tử, vâng lời Phật dạy, luôn kính lễ và cúng dường hàng xuất gia, bởi chư Tăng là ruộng phước tối thắng để mọi người gieo trồng phước đức. Thế nhưng, trong chư Tăng không hẵn ai cũng nhận thức đúng như Pháp, như Luật về điều ấy, vẫn còn không ít người mới bước vào đạo quan niệm sai lạc rằng việc cúng dường là “pháp nhĩ hiệp cúng” (Cảnh sách) mà không lo tự hoàn thiện mình, như Tổ Quy Sơn đã từng cảnh tỉnh.

Thực ra, để làm ruộng phước đích thực cho tín thí không phải là điều khó song cũng chẳng dễ dàng, đó là hộ trì sáu căn đồng thời đây cũng là nhiệm vụ, trọng tâm tu tập của hàng xuất gia. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, nếu không hộ trì thì tham sân si ác nghiệp được tạo ra nhưng nếu có chánh niệm tỉnh giác, không nắm bắt, không chạy theo thì ba nghiệp thanh tịnh. Chính sự tịnh nghiệp này mới có khả năng tạo ra phước đức cho tín chủ; những người gieo trồng, vun bồi cội phước.

Hộ trì chứ không đóng kín các giác quan, vẫn sống trong cuộc đời với đầy đủ sắc màu, vẫn thấy nghe hay biết đầy đủ nhưng thực sự làm chủ để không vướng mắc. Thương hay ghét, thích và không thích cũng đều kẹt. Sự an nhiên hay các căn được hộ trì là ở chỗ vượt lên sự thấy biết theo nghiệp bình thường để thấy biết với tâm chánh niệm tỉnh giác. Chính tâm “trú xả”, buông bỏ, không dính mắc khi đối duyên xúc cảnh là tác nhân chính yếu để hình thành nhân cách của bậc Thánh, nền tảng của mọi phước điền.

Hàng ngày, người xuất gia đều thọ nhận sự cung kính và cúng dường, đó là vay, là nợ. Phải làm gì để trả số nợ ấy luôn là điều ưu tư hàng đầu của hàng sơ tâm xuất gia. Theo tuệ giác Thế Tôn, người tu chỉ cần hộ trì vững chãi sáu căn. Khi sáu căn được hộ trì, nghiệp mới được đoạn giảm, phước đức càng tăng thêm, không chỉ xứng đáng là ruộng phước cho hàng Phật tử mà còn là cơ sở để người xuất gia bước lên những Thánh vị, đạt được giải thoát và an lạc.

QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Phật dạy: Cách nhận diện một ác tỷ kheo

Thế Tôn gọi mười tập tính xấu ác của loài quạ là tà pháp và những ai xuất gia mà chưa chuyển hóa được các tà pháp này là ác Tỷ kheo… Phật dạy: Cách nhận diện một ác tỷ kheo Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, dạy các Tỷ kheo: Này các Tỷ […]
25

Thế Tôn gọi mười tập tính xấu ác của loài quạ là tà pháp và những ai xuất gia mà chưa chuyển hóa được các tà pháp này là ác Tỷ kheo…

Phật dạy: Cách nhận diện một ác tỷ kheo

Phật dạy: Cách nhận diện một ác tỷ kheo

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, dạy các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, con quạ thành tựu với mười tà pháp. Thế nào là mười?
Ngạo nghễ, hung hãn, cường dục, ăn lớn, độc ác, không từ bi, khiếp nhược, giọng chói tai, vọng niệm và cất chứa tài sản.
Này các Tỷ kheo, con quạ thành tựu với mười tà pháp này.
Cũng vậy, này các Tỷ kheo, vị ác Tỷ kheo thành tựu với mười tà pháp. Thế nào là mười?
Ngạo nghễ, hung hãn, cường dục, ăn lớn, độc ác, không từ bi, khiếp nhược, giọng chói tai, vọng niệm và cất chứa tài sản.
Này các Tỷ kheo, vị ác Tỷ kheo thành tựu với mười tà pháp này.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ IV, chương 10, phẩm Ước nguyện, phần Con quạ, VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.439)

LỜI BÀN:

Xuất gia là bước lên lộ trình hướng đến giải thoát. Trong suốt chặng đường đầy cam go ấy, người thì tiến bộ đạt được mục tiêu rất nhanh, không ít người tiến bộ vừa hoặc chậm và một số ít người thối thất phải quay về. Cố nhiên, đã xuất gia thì không ai là người ác cả, ác Tỷ kheo dùng để chỉ cho những người xuất gia tiến bộ chậm, chưa chuyển hóa các tập khí xấu ác của chính mình.

Thế Tôn dùng hình ảnh những con quạ đen để minh họa cho hạng xuất gia tiến bộ chậm, những ác Tỷ kheo, thật ấn tượng. Nói đến loài quạ, tự khắc ta liên tưởng đến cảnh tượng xấu xa, xô bồ, giành giật, đấu đá, tham lam và chết chóc. Hình ảnh bầy quạ đen đúa, ranh mảnh, láu lỉnh, chụp giật, giành nhau ăn xác chết khiến ta kinh hãi, như những thần chết. Quán niệm về hình ảnh của loài quạ sẽ giúp hành giả tự phản tỉnh về những hành vi của mình bởi chỉ cần một phút loạn động, không giữ được chánh niệm thì các tập khí sẽ trỗi dậy và dễ dàng sa vào đường ác.

Thế Tôn gọi mười tập tính xấu ác của loài quạ là tà pháp và những ai xuất gia mà chưa chuyển hóa được các tà pháp này là ác Tỷ kheo. Tuy nhiên, những tà pháp này dễ dàng chuyển hóa thành chánh pháp nếu biết tu tập, nương tựa vào Bát Thánh đạo. Tám con đường Thánh này là phương tiện để vượt lên những phiền não đang đoanh vây đời sống chúng ta. Trong đó, đặc biệt là chánh kiến, sự thấy biết đúng như thật sẽ giúp cho hành giả thấy rõ chánh và tà, biết làm những gì cần làm, từ bỏ những gì cần từ bỏ.

Những người con Phật nói chung phải luôn quán sát để nhận diện và loại trừ mười tà pháp nêu trên. Vận dụng tuệ giác để gạn đục khơi trong, nhận chân được chánh tà và nhất là biết rõ chính mình là con đường tối thắng để xả ly tham ái, phiền não và thành tựu giải thoát.

QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Ca ngợi đúng người, đúng việc mới được phước

Cuộc sống luôn cần sự ca ngợi và tin tưởng bởi đó là những chất liệu làm thăng hoa cá nhân và cộng đồng… Ca ngợi đúng người, đúng việc mới được phước Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, dạy các Tỷ kheo: Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ kheo, như vậy […]
19

Cuộc sống luôn cần sự ca ngợi và tin tưởng bởi đó là những chất liệu làm thăng hoa cá nhân và cộng đồng…

Ca ngợi đúng người, đúng việc mới được phước

Ca ngợi đúng người, đúng việc mới được phước

Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, dạy các Tỷ kheo:

Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là bốn?
Không suy tư, không thẩm sát, tán thán người không xứng đáng được tán thán. Không suy tư, không thẩm sát, không tán thán người xứng đáng được tán thán. Không suy tư, không thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ không đáng tin tưởng. Không suy tư, không thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi trời.

Có suy tư, có thẩm sát, không tán thán người không xứng đáng được tán thán. Có suy tư, có thẩm sát, tán thán người xứng đáng được tán thán. Có suy tư, có thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ không xứng đáng được tin tưởng. Có suy tư, có thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi trời.

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 4, phẩm Không có rung động, phần Tán thán, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.714)

LỜI BÀN:

Tán thán, tôn vinh, ca ngợi là liệu pháp cần yếu để động viên và khuyến khích mọi người cố gắng hơn nữa trong công việc hiện tại. Tuy nhiên, sự cổ vũ nhiệt thành ấy phải dựa trên nền tảng tuệ giác như ngợi khen điều thiện, xưng tán chính nghĩa, tôn vinh cái đẹp… thì mới đem lại lợi ích thiệt thực cho mình và người, trong hiện tại và ở tương lai.

Người đời thường tiết kiệm sự ca ngợi bởi chúng ta ít khi đánh giá cao sự cố gắng và thành công của người khác. Đôi khi có lời xưng tán nhưng với tâm dua nịnh, nhằm lợi mình. Thành ra, cuộc đời đầy dẫy tiếng tung hứng, khen chê nhưng tìm ra lời thành thật để an trú, nuôi dưỡng và thăng hoa đời sống không phải là chuyện dễ.

Song hành với ca ngợi là sự tin tưởng, thường chúng ta thán phục ai thì có xu hướng tin và hành động theo người ấy. Sự tin tưởng có liên hệ mật thiết đến đời sống của mỗi cá nhân và xã hội nên chúng ta phải thận trọng phát huy tuệ giác để soi sáng cho niềm tin của chính mình. Sự tin hiểu và dấn thân hành động đúng đắn mới đem lại lợi ích thiết thực.

Cuộc sống luôn cần sự ca ngợi và tin tưởng bởi đó là những chất liệu làm thăng hoa cá nhân và cộng đồng. Cho nên, mỗi người con Phật phải vận dụng trí tuệ để ca ngợi và tin tưởng đúng người, đúng việc, đúng nơi và đúng lúc.

QUẢNG TÁNH

Phật Học

Tái sinh vào cõi lành

Nói đến tái sinh ắt phải nói đến nghiệp. Vì nghiệp có ảnh hưởng lớn đến tái sinh. Nghiệp là hành động có tác ý gồm ý nghĩ, lời nói và việc làm. Nó tạo ra nhân, nhân sanh ra quả, tạo thành một chuỗi mắt xích vô tận trong cuộc sống mỗi  Có bốn […]
17

Nói đến tái sinh ắt phải nói đến nghiệp. Vì nghiệp có ảnh hưởng lớn đến tái sinh. Nghiệp là hành động có tác ý gồm ý nghĩ, lời nói và việc làm. Nó tạo ra nhân, nhân sanh ra quả, tạo thành một chuỗi mắt xích vô tận trong cuộc sống mỗi 

Có bốn loại nghiệp: Cực trọng nghiệp là những hành động to lớn trọng yếu như cứu người (nghiệp thiện) và giết người (nghiệp ác). Tập quán nghiệp hay Thường nghiệp là những hành động thiện ác xảy ra hàng ngày đã trở thành thói quen, thành bản chất. Tích lũy nghiệp là tất cả hành động lành dữ đã tạo ra ở các kiếp trước. Và cuối cùng là Cận tử nghiệp, những hành động lành dữ lúc sắp chết.

Lúc còn sống, chúng ta thường xuyên tạo nghiệp (lành hay dữ), cái bóng của nghiệp rớt lại trong tàng thức, gọi là chủng tử. Tuy nhiên, nghiệp sanh ra nhân, nhân sanh ra quả, nếu nhân quả chưa báo hết trong thời hiện tại thì cái bóng của nghiệp trong tàng thức chính là cái quả còn sót lại đó. Và, sau khi chúng ta chết, tàng thức mang chủng tử đó đi tái sinh, khi gặp thuận duyên, nó sẽ sinh khởi hiện hành, tức là tái sinh con người mới, kiếp sống mới.

Trong bài “Nghiệp và tái sinh” (Giác Ngộ số 863 ra ngày 16-8-2016) tác giả có nói đến việc Đức Phật dùng ảnh dụ về việc tái sinh đại khái như sau: “Một đàn bò bị nhốt trong chuồng, cửa mở, con chạy ra trước tiên là con mạnh nhất, nếu không có con mạnh nhất thì con đầu đàn, nếu không có con đầu đàn thì con gần cửa nhất, nếu không có con gần cửa nhất thì cả đàn sẽ chen ra cùng một lúc”. Qua đó chúng ta thấy hình ảnh cái chuồng là tàng thức, đàn bò là quả (thức tái sinh), cửa chuồng mở là khi chúng ta chết, bò chạy ra là quả tái sinh. Khi chúng ta chết, những cái quả trong tàng thức sẽ dẫn chúng ta tái sinh. Nếu không có cái quả Cực trọng nghiệp (con bò mạnh nhất) dẫn đi thì cái quả Tập quán nghiệp (con đầu đàn) sẽ dẫn đi, nếu không có cái quả Tập quán nghiệp thì cái quả Cận tử nghiệp (con gần chuồng nhất) dẫn đi và nếu không có cả ba quả trên thì cái quả Tích lũy nghiệp (cả đàn bò cùng ra một lúc) sẽ dẫn đi.

Con người mới không khác con người cũ nhưng không phải con người cũ. Bởi vì, tuy nghiệp là chủ tâm, xuất phát từ ý nghĩ, thông qua lời nói, việc làm mới thành hành động. Nhưng, hành động được thực hiện hay không lại do những yếu tố khách quan quyết định. Thí dụ, anh A thấy anh B có nhiều cử chỉ, lời nói, thái độ khiêu khích, thách thức, anh A mới chửi, mới đánh anh B. Nếu không có những yếu tố khách quan của anh B tác động thì anh A sẽ không hành động tạo nghiệp. Do đó, nghiệp không có tự tướng, do duyên sinh cho nên con người tái sinh chỉ kết nối với kiếp sống trước qua cái quả (chứ không phải nghiệp) trong tàng thức. Đã là cái quả và do duyên sinh thì không thể nói cái nghiệp “của ta” và “ta” tái sinh.

Cái gì thúc đẩy chúng ta tạo nghiệp? Đó là cái tâm, “Phi mao tùng thử đắc. Tố Phật dã do tha” (thành súc sinh hay thành Phật đều do đây). Từ xưa đến nay chúng ta thường đổ thừa số phận khi gặp thất bại, bất hạnh khổ đau trong cuộc sống. Đó là tri kiến sai lầm, là vọng tưởng. Chúng ta giàu sang, sung sướng hạnh phúc là do chúng ta tạo nhiều nghiệp thiện lành, ngược lại, nghèo hèn, khổ đau bất hạnh là do tạo nhiều nghiệp xấu ác. Như vậy, nếu chúng ta muốn thoát cuộc sống nghèo hèn, khổ đau bất hạnh ở hiện tại và tương lai thì phải chuyển nghiệp xấu ác sang thiện lành. Để chuyển nghiệp, trước tiên chúng ta phải tu tâm, đưa nó về trạng thái định, không còn tham-sân-si-mạn-nghi-ác kiến. Kế đến là tu thân, xa lìa dục lạc thế gian, buông bỏ chấp thủ cho thân lắng dịu, an tịnh. Sau cùng là tu giới, tức là chấp trì nghiêm cẩn năm giới cấm cơ bản của người Phật tử cho Từ bi, Trí huệ phát sinh, lánh xa việc xấu ác, gần gũi việc thiện lành.

Tuy nhiên, chúng ta không nên quá tin tưởng vào việc chuyển hết nghiệp vì phàm phu thì nghiệp xấu ác chỉ bớt đi chứ không bao giờ hết hẳn. Chúng ta cũng không nên vì vậy mà nản chí. Bớt được bao nhiêu đỡ bấy nhiêu. Thí dụ như lóng phèn lu nước đục, phần trên nước có trong, sử dụng được nhưng vẫn còn mang nhiều chất bẩn.

Tóm lại, như khi viết văn, các nhà văn thường chuyển ý đoạn văn đầu sang đoạn văn sau trong một câu văn bằng dấu chấm phẩy. Để cho ý tứ câu văn liền mạch, đúng cú pháp, hoản hảo từ câu đầu đến câu sau, họ phải chọn từ ngữ kỹ lưỡng ngay từ câu đầu. Cuộc đời cũng như một câu văn, trong đó sự sống là đoạn văn đầu, cái chết là đoạn văn sau, ranh giới giữa sự sống và cái chết là dấu chấm phẩy, chứ không phải dấu chấm. Nghĩa là chết không phải chấm dứt sự sống mà là một sự chuyển tiếp từ kiếp trước sang kiếp sau, từ kiếp này sang kiếp khác mà thôi. Để cho sự chuyển tiếp đó được hoàn chỉnh và hoàn hảo chúng ta cũng nên bắt chước các nhà văn, chọn cho mình những điều tốt đẹp nhất ngay trong hiện tại.

Trương Hoàng Minh

Phật Học

Có tu ắt có chứng

Trong Bát chánh đạo, chánh tinh tấn là một chi phần quan trọng. Áo nghĩa thư cũng có một câu nói rất nổi tiếng là: ‘Hãy đứng lên và đừng bao giờ dừng lại cho đến khi đạt được mục đích’. Thật vậy, cuộc đời dạy chúng ta nhiều điều, nhưng điều quan trọng nhất […]
16

Trong Bát chánh đạo, chánh tinh tấn là một chi phần quan trọng. Áo nghĩa thư cũng có một câu nói rất nổi tiếng là: ‘Hãy đứng lên và đừng bao giờ dừng lại cho đến khi đạt được mục đích’.


Thật vậy, cuộc đời dạy chúng ta nhiều điều, nhưng điều quan trọng nhất là đừng bao giờ ngừng làm việc, ngừng cố gắng. Làm việc với nỗ lực và mục tiêu chân chính bạn sẽ đạt được điều mình mong muốn một cách hân hoan. Colin Power nói rất hay rằng: ‘Một giấc mơ không thể trở thành hiện thực bằng phép màu. Nó phải đổ mồ hôi với sự kiên trì và nỗ lực’.

Rất có thể sự nỗ lực của chúng ta đôi khi không đem lại kết quả như mong muốn nhưng nó sẽ không bao giờ là vô ích. Chỉ cần nó được làm với tất cả tấm lòng thì dù cho có thất bại tạm thời đi nữa nhưng bạn cũng sẽ tìm thấy trong đó một cái gì tương tự như sự hài lòng, thỏa mãn. Thật không phải dễ dàng gì để bắt đầu lại sau sự thất bại, nhưng nếu không làm gì hết thì bạn sẽ không đạt được gì cả. Hãy lập những kế hoạch cụ thể cho mình và thực hiện chúng. Hãy làm việc không ngừng với mục tiêu đã vạch ra, nhưng hãy ghi nhớ một điều là… dù cho có thất bại đi nữa thì cuộc đời vẫn chưa phải là hết. Có nhiều con đường dẫn đến đích. Điều quan trọng là đừng bao giờ tuyệt vọng khi gặp phải thất bại. Hãy hít thở thật sâu, và thừa nhận rằng có cái gì đó đã sai với con đường vừa đi qua và hãy bắt đầu lại cuộc hành trình đó bằng một con đường khác. Nếu chúng ta đã cố gắng mà vẫn thất bại thì có lẽ còn bài học nào đó nữa mà ta cần học thêm. Hãy cố gắng một cách tích cực. Bên cạnh đó cũng đừng quên giúp đỡ người khác khi họ cần đến bạn. Đây là cách tốt nhất để bạn tìm thấy sự thanh thản tâm hồn và nhận ra giấc mơ của mình.

Cuộc sống tu hành cũng thế. Nhiều người phàn nàn rằng, thời Đức Phật sao thấy người tu chứng quả nhiều quá. Còn bây giờ sao không nghe nói ai chứng quả gì cả. Chúng ta chỉ biết phàn nàn rồi than vãn mà không nhìn lại cách hành trì của mình. Cao Phong Diệu thiền sư lập nguyện ba năm không nằm, Hiếp Tôn Giả một đời lưng không dính chiếu, Milarepa ngồi thiền đến chai cả mông v.v… Còn mình đã dành bao nhiêu thời gian trong ngày cho việc tu tập? Chúng ta phải thừa nhận rằng mình đã dành gần hết thời gian cho các hoạt động hướng ngoại nhưng rất ít thời gian cho tu tập bên trong.  Lời nói của Đức Phật không hề hư dối, có tu và tu đúng phương pháp là có chứng. Vấn đề là chúng ta có thực tập hay chỉ nói suông. Có kiên trì hay thấy khó liền bỏ cuộc.

Các vị Thánh tăng ngày xưa tu theo giáo pháp Phật dạy mà chứng quả thì ngày nay chúng ta cũng có thể chứng quả nếu ta cũng tu “gắt củ kiệu” như họ. Có thực tập thì chắc chắn có kết quả. Không có gì có thể đạt được nếu thiếu sự tinh tấn và kiên trì. Lời cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết-bàn là: “Này các đệ tử, cuộc đời rất ngắn ngủi, hãy nỗ lực không ngừng”.

Chúng ta cần nỗ lực hơn nữa để đạt những mục tiêu tâm linh. Rồi ta sẽ thấy rằng những cố gắng của ta sẽ có kết quả. Và chuyện chứng đắc không phải chỉ là chuyện cổ tích. Còn như ta chưa thể giác ngộ ngay trong hiện đời thì công phu của ta cũng không hề lãng phí, ít nhất ta cũng có được những kinh nghiệm về tâm linh, chứ không phải chỉ là việc nhai “xác mía” của những con chữ.

Tôi nghe nói rằng có một thiền tăng Nhật Bản đi đến các danh tăng đương thời để tham vấn đạo giác ngộ, nhưng không có ai giải đáp được những vấn đề ngài thắc mắc. Và ngài đã nói thẳng với họ rằng “Những giải đáp của quý vị cũng như người bị ngứa ở chân mà chỉ được gãi bên ngoài chiếc giầy mà thôi”. Đó chính là chỗ bất cập của “học nhiều mà hành ít” vậy.

Theo: Thích Trung Hữu / giacngo

Phật Học

Luật vay trả

Cho dù bạn có theo tôn giáo hay không theo một tôn giáo nào, bạn vẫn phải trả và nhận những gì mình gây tạo ra, Luật Nhân Quả cũng giống như lửa, hễ chạm tay vào thì mọi người đều bị phỏng như nhau, cho dù có người không tin rằng sờ vào lửa […]
19

Cho dù bạn có theo tôn giáo hay không theo một tôn giáo nào, bạn vẫn phải trả và nhận những gì mình gây tạo ra, Luật Nhân Quả cũng giống như lửa, hễ chạm tay vào thì mọi người đều bị phỏng như nhau, cho dù có người không tin rằng sờ vào lửa là sẽ phỏng. Thế nên:

– Làm ác hại người mà cầu bình an thì không thể
– Cướp của gian tham mà cầu giàu an ổn có thì không thể
– Không cho đi mà đòi nhận lại thì không thể
– Không giúp người mà đòi người giúp thì không thể
– Không yêu thương ai mà đòi người khác yêu thương mình thì không thể
– Sống giả dối mà đòi người khác sống thật với mình thì không thể
– Phá hoại hạnh phúc người khác mà cầu mình được hạnh phúc thì không thể
– Làm việc ác mà muốn người khác làm việc tốt với mình thì không thể
– Ở đời có vay có trả một việc nhỏ thôi thiện hay ác bạn vẫn có báo ứng
– Bạn trồng cây cam bạn sẽ có trái cam
– Bạn trồng cây đắng bạn sẽ ăn trái đắng.
– Đừng than, đừng trách, đừng cầu, đừng mong
– Gieo cây ngọt sẽ được ăn quả ngọt.

– Đừng nghĩ rằng không ai biết việc bạn đã làm .
Trước hay sau gì hoặc sớm hay muộn.? Bạn có lên trời hay xuống tận đáy biển…Bạn vẫn phải trả nghiệp mình đã tạo ra.

Cho dù cao vút lưng tời
Cho dù đáy biển trốn thời được đâu!
Cho dù núi thẳm, hang sâu
Không nơi nào thoát quả sầu đã gieo..
Kinh Pháp Cú

Liễu Ngộ
Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Suy nghiệm về CHẾT để sống bình an

Một khi hiểu rõ chết là điều không tránh khỏi với tất cả mọi loài, người con Phật càng trân quý sự sống, bình thản với sự chết hơn đồng thời làm tất cả những gì cần làm để đem đến an vui cho mình và người, ở đời này và đời sau… Suy nghiệm […]
21

Một khi hiểu rõ chết là điều không tránh khỏi với tất cả mọi loài, người con Phật càng trân quý sự sống, bình thản với sự chết hơn đồng thời làm tất cả những gì cần làm để đem đến an vui cho mình và người, ở đời này và đời sau…

Suy nghiệm về CHẾT để sống bình an

Suy nghiệm về CHẾT để sống bình an

Một thời, Thế Tôn ở Sàvatthi. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến, sau khi đảnh lễ và ngồi xuống một bên.

Đại vương từ đâu đi đến giữa trưa thế này?
Bạch Thế Tôn, tổ mẫu của con già nua, đã đạt đến tuổi thọ và đã mệnh chung. Con rất yêu quý tổ mẫu. Bạch Thế Tôn, nếu con được cho một voi báu, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho voi báu… Nếu con được cho một quốc độ, hay để tổ mẫu con phải chết, con sẽ cho quốc độ.
Thưa đại vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.
Thật vi diệu, thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn.
Như vậy là phải, thưa đại vương. Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, tất cả đồ gốm được làm ra đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể.
Đại vương nên biết: Mọi chúng sanh sẽ chết/Mạng sống sẽ kết thúc/Tùy nghiệp, họ sẽ đi/Nhận lãnh quả thiện ác/Ác nghiệp đọa địa ngục/Thiện nghiệp lên thiên giới/Do vậy hãy làm lành/Tích lũy cho đời sau/Công đức cho đời sau/làm hậu cứ cho người.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, chương 3, phẩm 3, phần Tổ mẫu [trích], VNCPHVN ấn hành, 1993, tr.216)

LỜI BÀN:

Ai cũng biết rồi đây mình sẽ chết nhưng không biết chết lúc nào và cái chết đến với mình như thế nào? Bởi vì chết là một sự kết thúc tàn nhẫn và phủ phàng nên đa phần mọi người đều cố tránh, xem như cái chết còn xa lắm. Rồi khi một người thân trong gia quyến mất đi dẫu còn xuân xanh hay thượng thọ thì niềm đau thương, tiếc nuối dành cho người mất vẫn lớn vô hạn. Vì thế, trong đời sống phải trang bị nhận thức và phát huy tuệ quán để đối diện và vượt qua đau thương mất mát ấy.

Vua Pasenadi thực sự đau đớn khi tổ mẫu qua đời, dẫu đã thượng thọ. Ông thương tiếc cùng tột và nghĩ rằng có thể đổi cả vương quốc nếu được, để giành lại sự sống cho tổ mẫu. Nhờ gặp Thế Tôn, vua được khai thị hiểu rõ vô thường, có sinh thì có diệt, cái chết sẽ đến với mọi người là một sự thật tất yếu.

Nhận chân được sự thật này, người con Phật nguyện sống hiền thiện và được chết thanh thản, không tham sống mà cũng chẳng sợ chết. Thực tế thì sự sống chết, sanh diệt đang diễn ra từng giây phút trong chúng ta. Chết không phải là hết, chấm dứt tất cả mà chỉ là sự thay đổi, chuyển sang một đời sống khác trong dòng luân hồi vô tận. Sự kết thúc này chính là tiền đề cho một sự bắt đầu mà đời sống ở tương lai hoàn toàn phụ thuộc vào nghiệp lực đã tạo ra trong hiện tại.

Một khi hiểu rõ chết là điều không tránh khỏi với tất cả mọi loài, người con Phật càng trân quý sự sống, bình thản với sự chết hơn đồng thời làm tất cả những gì cần làm để đem đến an vui cho mình và người, ở đời này và đời sau.

QUẢNG TÁNH

Nguồn: Phật học Đời sống

Phật Học

Hai loại quả báo hiện tại và vị lai

Vì thế, người học Phật thấy rõ nhân quả nên luôn sợ hãi với quả báo, quyết không làm điều ác, tránh xa tội lỗi… Hai loại quả báo hiện tại và vị lai Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: Này […]
21

Vì thế, người học Phật thấy rõ nhân quả nên luôn sợ hãi với quả báo, quyết không làm điều ác, tránh xa tội lỗi…

Hai loại quả báo hiện tại và vị lai

Hai loại quả báo hiện tại và vị lai

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, có hai loại tội. Thế nào là hai? Tội có kết quả ngay trong hiện tại và tội có kết quả trong đời sau.
Thế nào là tội có kết quả ngay trong hiện tại? Này các Tỷ kheo, khi thấy nhà vua bắt được kẻ trộm, kẻ vô loại, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ bị đánh bằng roi cho đến bị chặt đầu. Thấy vậy liền suy nghĩ: Do làm các nghiệp ác nên mới bị các hình phạt như vậy. Nghĩ vậy, người ấy sợ hãi tội lỗi trong hiện tại.
Và này các Tỷ kheo, thế nào là tội có kết quả trong đời sau? Ở đây, có người suy xét như sau: Quả báo dị thục của thân khẩu ý ác, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục. Nghĩ vậy, người ấy sợ hãi tội lỗi trong đời sau.
Do vậy, này các Tỷ kheo, cần phải học tập như sau: Chúng ta phải sợ hãi đối với tội có kết quả hiện tại và trong đời sau. Chúng ta phải thấy rõ sự nguy hiểm và tránh xa các tội.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 2, phẩm Hình phạt, phần Hai loại tội [lược], VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.94)

LỜI BÀN:
Nhân quả ở đời vốn rất chính xác và rõ ràng, gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Đức Phật cũng từng dạy: Dù lên núi cao hay xuống vực thẳm cũng không tránh được nghiệp quả. Do nhận thức đúng về nhân quả nên người con Phật luôn thận trọng trong mỗi việc làm, lời nói và suy nghĩ của chính mình.

Tiến trình từ nhân đến quả, có thể báo ứng ngay trong hiện tại mà cũng có thể xảy ra ở tương lai gần hoặc xa. Chỉ cần quan sát trong hiện tại, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra quả báo nhãn tiền của những việc làm ác như: trộm cướp, đua xe, hút chích, phụ tình, trù dập, hãm hại, buôn lậu, tham ô… dẫn đến bị bắt, bị truy tố, giam cầm cho đến xử tử.

Ngoài những tội có kết quả trong hiện tại còn vô số những việc ác sẽ kết thành quả xấu trong tương lai. Con người thường sợ quả báo hiện tại mà xem thường quả báo ở vị lai. Vì thế, những người đã phạm tội nhưng chưa bị phát hiện hoặc đã “hạ cánh an toàn” thì ung dung hưởng thụ, thản nhiên như người vô tội, thậm chí đắc ý cười thầm. Sự thật thì không như vậy, lương tâm luôn cắn rứt và tội báo sẽ đến với những người ấy, không thể nào thoát khỏi.

Hai loại quả báo hiện tại và vị lai
Hai loại quả báo hiện tại và vị lai

Vì thế, người học Phật thấy rõ nhân quả nên luôn sợ hãi với quả báo, quyết không làm điều ác, tránh xa tội lỗi. Niềm tin nhân quả, sự sợ hãi quả báo trong đời này và những đời sau sẽ góp phần tác thành nên nhân cách, đạo đức cho mỗi người. Xã hội sẽ bình an, thiện lành và phát triển ổn định hơn khi mỗi người đều có nhận thức đúng đắn về nhân quả và nghiệp báo.

QUẢNG TÁNH

Phật Học

Sự linh ứng kỳ diệu của thần chú Đại bi

Sự linh nghiệm, hiển linh của Thần Chú Đại Bi từ lâu đã được dân gian Việt Nam nói riêng, dân chúng khắp nơi trên toàn cõi phương Đông nói chung hiểu là Thần Chú của Phật Pháp. Chú Đại Bi cứu khổ cứu nạn con người không bị ma quỷ, kẻ ác hãm hại; […]
47

Sự linh nghiệm, hiển linh của Thần Chú Đại Bi từ lâu đã được dân gian Việt Nam nói riêng, dân chúng khắp nơi trên toàn cõi phương Đông nói chung hiểu là Thần Chú của Phật Pháp. Chú Đại Bi cứu khổ cứu nạn con người không bị ma quỷ, kẻ ác hãm hại; bảo vệ con người trước mọi khó khăn.

Theo kinh sách Phật giáo, Thần chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, do chính Đức Phật Thích Ca diễn nói trong một pháp hội.

Ngài cho biết lý do ra đời của Thần chú là vào vô lượng ức kiếp về trước, Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai, vì tâm thương tưởng đến chúng sanh nên đã nói ra Thần chú Đại Bi và khuyến khích Bồ Tát Quán Thế Âm nên thọ trì tâm chú này để mang đến lợi ích an vui lớn cho chúng sanh trong đời vị lai.

Bồ Tát Quán Thế Âm lúc bấy giờ mới ở ngôi sơ địa khi nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ bát địa. Vui mừng trước oai lực của Thần chú, Ngài bèn phát đại nguyện: “Nếu trong đời vị lai, con có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân con liền sanh ra nghìn mắt nghìn tay”.

Lập tức, Ngài thành tựu ý nguyện. Từ đó, hình ảnh của vị Bồ Tát Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt trở thành một biểu tượng cho khả năng siêu tuyệt của một vị Bồ Tát mang sứ mệnh vào đời cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sinh.

Nghìn tay, nghìn mắt nói lên cái khả năng biến hóa tự tại, cái dụng tướng vô biên của thần lực từ bi và trí huệ tỏa khắp của Bồ Tát Quán Thế Âm. Nghìn mắt để có thể chiếu soi vào tất cả mọi cảnh giới khổ đau của nhân loại và nghìn tay để cứu vớt, nâng đỡ.

Thần chú Đại Bi sau đó đã được một Thiền sư Ấn Độ du hóa qua Trung Quốc vào niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường dịch và chuyển âm từ tiếng Phạn qua tiếng Trung Hoa và được Hoà Thượng Thích Thiền Tâm chuyển ngữ qua tiếng Việt. Với oai lực và linh nghiệm đã được chứng minh qua không gian và thời gian, Thần chú Đại Bi đã được trân trọng trì tụng trong các khoá lễ, các nghi thức tụng niệm chính của các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Đại thừa như : Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…

Uy lực lớn lao của Thần Chú đã được chính Đức Thế Tôn giảng rõ trong Kinh Đại Bi Tâm Đà-Ra-Ni rằng, bất cứ một ai khi trì tụng Thần Chú Đại Bi với tất cả tâm thành, chắc chắn sẽ đạt được tất cả những điều mong cầu, ước nguyện bởi trong cõi dục giới này, con người đâu có mong cầu điều gì hơn ngoài an lạc, hạnh phúc và sống lâu.

Một công năng khác của Thần chú là cứu khổ. Giáo lý của nhà Phật cho biết rằng tất cả mọi việc trên cõi đời này không có gì xảy ra một cách ngẫu nhiên. Tất cả những đau thương bất hạnh mà ta phải gánh chịu trong kiếp sống hiện tại: gông cùm, tù tội, bệnh hoạn, nghèo hèn,… là kết quả của những ác nghiệp mà ta đã gây nên từ bao kiếp trước hoặc trong kiếp này, nay đến lúc ta phải trả. Sở dĩ Thần chú Đại Bi có khả năng đưa con người vượt qua khỏi cơn khổ nạn vì công năng siêu tuyệt của nó là phá ác nghiệp chướng.

Đối với những người không theo Phật giáo, câu chuyện linh nghiệm của Thần chú Đại Bi trên đây có thể mang màu sắc huyền bí, khó tin. Nhưng xin biết rằng, ý nghĩa sâu xa hơn tất cả đó là Thần Chú Đại Bi mang đến cho người trì tụng tâm an lành, nhắc nhớ luôn sống vì mọi người, không ngừng gieo thiện lương… Đó cũng chính là đích đến của mỗi người ở cuộc đời này.

Bài viết: “Sự linh ứng kỳ diệu của thần chú Đại bi”
Minh Chính/ Vườn hoa Phật giáo
Phật Học

Tinh tấn trong đạo Phật khác với nỗ lực ở thế gian

Là Phật tử, chắc hẳn chúng ta còn nhớ bài thơ Xuân vãn của Sơ tổ Trúc Lâm (Trần Nhân Tông). Nhân dịp xuân về, chúng ta cùng nhau nhắc lại bài thơ này, trước là tưởng nhớ Phật hoàng, sau là vui xuân, nhưng chúng ta không quên tinh tấn tu trì. Bài thơ […]
24

Là Phật tử, chắc hẳn chúng ta còn nhớ bài thơ Xuân vãn của Sơ tổ Trúc Lâm (Trần Nhân Tông). Nhân dịp xuân về, chúng ta cùng nhau nhắc lại bài thơ này, trước là tưởng nhớ Phật hoàng, sau là vui xuân, nhưng chúng ta không quên tinh tấn tu trì.

Bài thơ của Tổ vẻn vẹn chỉ có bốn câu: “Thủa bé chưa từng rõ sắc không/ Xuân về hoa nở rộn trong lòng/ Chúa xuân nay bị ta khám phá/ Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng” (HT.Thích Thanh Từ dịch).

Với bốn câu thơ thôi, nhưng nội dung ý nghĩa Tổ dạy rất sâu sắc. Nếu đọc và suy ngẫm, chúng ta sẽ thấy bài thơ toát lên hai ý: một là Tổ nói về nét xuân bên ngoài (tức xuân sinh diệt theo vô thường thế gian); và ý tiếp theo, Tổ đề cập đến một mùa xuân miên viễn trong lòng. Đó là sức xuân trường tồn khi người tu đạt được giác ngộ, giải thoát. Hai câu đầu của bài thơ nói về thời niên thiếu; hai câu sau (cũng là ý kết của bài), Tổ nhấn mạnh và nói rõ: Chúa xuân nay bị ta khám phá! Vậy, khám phá cái gì? Tổ đã khám phá ra cái vô thường sinh diệt, để thấy cái Chân thường hằng hữu mà ít người trong chúng ta thấy được. Không phải là người sành về thơ phú, nên không dám luận bàn sâu bài thơ này, lòng chỉ trộm nghĩ, Tổ dạy chúng ta là người tu Phật phải tinh tấn tu trì để dẹp bỏ cái xấu ác (tham, sân, si) hướng tới lộ trình giải thoát, phải tinh tấn lâu dài mới liễu ngộ được sự sinh tử luân hồi.

Tinh tấn khác với nỗ lực

Tinh là tinh chuyên, thuần nhất, không xen tạp, tấn là đi tới không thoái lui. Tinh tấn là luôn luôn chuyên tâm nhất trí, cố gắng không ngừng để tiến tới một mục đích toàn thiện, tốt đẹp, sáng sủa, an vui. Theo nghĩa thông thường, tinh tấn nghĩa là siêng năng, chuyên cần. Nhưng chữ tinh tấn trong đạo Phật có hàm nghĩa chuyên cần, siêng năng để đạt một mục đích chân chính tốt đẹp, đó là mục đích giải thoát chứ không phải siêng năng trong mục đích thiếu tốt đẹp, hẹp hòi, ích kỷ. Người học sinh chuyên cần học hành thi đỗ, để có chức cao, vợ đẹp, hưởng lộc nhiều; người trọc phú mê mải làm giàu, để thu lợi nhiều về cho mình; chàng trai si tình, chuyên tâm làm những việc để được lòng người yêu, như thế không phải là tinh tấn. Và các việc tương tự có tính “bản ngã” ích kỷ như nêu ở trên, chỉ là nỗ lực không được gọi là tinh tấn.

Tính chất của tinh tấn

Tinh tấn trong đạo Phật có những tính chất như sau:

1. Tinh tấn diệt trừ những điều ác chưa phát sinh: Những điều ác còn tiềm phục trong ta, ta đừng cho chúng phát sinh ra. Chẳng hạn từ trước đến nay ta chưa bao giờ trộm cướp, gian tham, cờ bạc, rượu chè, thì từ nay về sau, ta phải tinh tấn giữ gìn không cho những hành vi xấu xa ấy phát sinh.

2. Tinh tấn diệt trừ những điều ác đã phát sinh: Khi ta đã lỡ tạo điều ác, trộm cướp, dâm dật, rượu chè v.v… ta phải siêng năng quyết tâm trừ bỏ.

3. Tinh tấn làm phát sinh những việc lành chưa phát sinh: Như từ trước đến nay, ta chưa giúp đỡ người nghèo khổ, chưa bênh vực kẻ yếu hèn, chưa đi chùa lễ Phật, bây giờ ta quyết tâm thực hiện những điều ấy.

4. Tinh tấn làm tăng trưởng những việc lành đã phát sinh: Từ trước đến nay ta đã tu tâm dưỡng tính, làm nhiều điều phước thiện, bây giờ ta tiếp tục làm những công việc tốt đẹp ấy nhiều hơn nữa.

Tóm lại, tinh tấn là siêng năng, cố gắng không dừng nghỉ trong công việc diệt trừ, chặn đứng cái xấu, cái ác và làm phát sinh, tăng trưởng cái đẹp, cái thiện, với mục đích cuối cùng là sự giải thoát hoàn toàn.

Công năng của tinh tấn

Tinh tấn là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy ta tiến mau trên con đường thiện. Không có tinh tấn thì dù có sáng suốt bao nhiêu, có dự định bao nhiêu công trình tốt đẹp, ta cũng không làm được việc gì có ích lợi cho ta và cho xã hội. Tinh tấn như dầu xăng trong bộ máy xe. Máy dù tốt, người lái dù giỏi mà không có xăng, chiếc xe vẫn nằm ỳ một chỗ.

Những bậc vĩ nhân, những đấng cứu thế, danh lưu muôn thủa cũng nhờ luôn luôn tinh tấn, với một ý chí dũng mãnh, quyết tâm giúp ích cho đời. Thất bại không làm cho họ ngã lòng. Trở ngại không làm cho họ thối chí. Nhờ tinh tấn, họ đã chiến thắng tất cả, từ ngoại cảnh đến nội tâm, họ đã đạt được những nguyện ước tốt đẹp, cao quý nhất của nhân loại và nêu cao gương sáng cho hậu thế soi chung.

Tinh tấn chính là ý chí và nghị lực sắt đá của những ai muốn tiến đến địa vị Phật-đà. Người tu hành không có tinh tấn chẳng khác gì kẻ muốn vượt qua biển rộng mà chẳng có thuyền bè. Bao nhiêu những đức tính quý báu như: từ bi, trí tuệ, lợi tha… sẽ trở thành những tiếng nói suông, nếu thiếu tinh tấn. Cho nên lời dặn cuối cùng của Đức Phật Thích Ca với các đệ tử, trước khi nhập Niết-bàn là: “Hỡi các đệ tử! Hãy tinh tấn lên để được giải thoát”.

Noi theo gương tinh tấn của Đức Bổn Sư Thích Ca

Nếu ở đời này có một gương tinh tấn rực rỡ và cao quý nhất, thì đó là gương tinh tấn của Đức Bổn Sư Thích Ca.

Với ý nguyện vĩ đại và cao cả nhất mà người đời chưa ai từng nghĩ đến là sự giải thoát ra khỏi sinh tử luân hồi, và tìm con đường giải thoát ấy cho toàn thể chúng sinh, Đức Phật đã cương quyết lìa bỏ cung điện ra đi tìm đạo. Ngai vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, không níu chân Ngài lại được; thành cao, hố hiểm, quan quân không chặn được bước tiến của Ngài; thâm sơn cùng cốc, rừng thiêng nước độc không làm Ngài nản lòng; giông tố bão bùng, nắng mưa, đói rét không làm Ngài nhụt chí. Một khi đã ra đi, Ngài không bao giờ quay đầu nhìn lại quá khứ yên vui để tiếc nuối. Con đường của Ngài là ở trước mặt, là ở trên cao, luôn luôn phải nhìn lên, bước tới. Lúc chưa tìm được đạo, Ngài quyết tâm tìm cho được. Khi đã tìm được đạo rồi, Ngài quyết tâm dẫn dắt chúng sinh lên đường đạo ấy. Tự giác rồi giác tha, và đeo đuổi mãi công cuộc ấy cho đến bao giờ giác hạnh viên mãn: tất cả đều nhờ tinh tấn.

Ai có được ý chí dũng mãnh như Ngài: tìm đạo cho đến quên ăn, quên ngủ, chết lịm ở giữa rừng vì đói khát? Ai nói được một câu quyết liệt, đầy nghị lực sắt thép như Ngài: “Nếu không chứng được Đạo quả, thì dù thịt nát xương tan, Ta quyết không rời khỏi chỗ này”. Có ai đã ngồi thiền 49 ngày liền dưới gốc bồ-đề giữa rừng già u tịch mà không một phút thối chuyển?…

Trau giồi tinh tấn hàng ngày của người Phật tử

Theo thầy tổ, trước tiên muốn trau giồi hạnh tinh tấn cho có kết quả, chúng ta phải đề phòng những trường hợp sau đây:

– Khắc phục tính háo thắng, đây là một tính xấu có thể làm trở ngại rất nhiều trong công việc trau giồi tinh tấn của ta. Có nhiều người vì tính hiếu thắng muốn tỏ ra ta có tài đức hơn người, nên muốn làm những việc vĩ đại tày trời; nhưng sức lực tài năng của họ có hạn, nên dù họ có cố gắng, tinh tấn bao nhiêu cũng vô ích. Chẳng hạn, có anh chàng mới tập bơi, nghe người ta thách bơi qua sông cũng nhận lời. Anh ta dù có cố gắng đem hết sức lực ra để bơi cũng không thoát khỏi chết chìm ở giữa sông.

– Cần đề phòng sự hấp tấp nóng nảy, muốn mau được kết quả. Sự gì, vật gì cũng đều cần có một thời gian để phát triển, trưởng thành. Ta quên sự thật ấy thì không làm được việc gì có kết quả hết. Người muốn diệt trừ ngay một lúc tất cả tính xấu của mình chẳng khác gì đứa trẻ trong một phút cao hứng, vào rừng quyết tâm trừ cho hết thú dữ hay một người lính đơn thương độc mã xông vào trận mạc của quân địch.

Cho nên muốn tinh tấn có kết quả tốt đẹp, cần phải làm việc một cách có phương pháp, phải loại trừ tính hiếu thắng, tính nóng nảy gấp gáp. Ta có thể đặt mục đích cao xa, nhưng hãy tuần tự mà tiến, hết bước này đến bước khác; đi từ gần đến xa, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. Hãy tiến lên một cách đều đặn, đừng có khi chạy thật mau, rồi có khi ngồi để thở, hay quá mệt nằm xuống không thể dậy được nữa!

Ta hãy nghe Đức Phật dạy: “Ta tinh tấn nỗ lực thêm lên mãi, để đạt được mục đích cao thượng nào mà ta chưa đạt được, để làm chủ các phép mà ta chưa làm chủ được, để thực hiện những đức tính nào Ta chưa thực hiện được. Siêng năng tinh tấn thì không việc gì là khó. Giọt nước tuy nhỏ mà thường chảy cũng làm xuyên thủng đá. Nếu các thầy hành đạo mà tâm còn biếng nhác, trễ lười thì đạo quả khó thành, ví như người dùi cây lấy lửa, cây chưa nóng mà đã thôi không dùi nữa thì lửa làm sao có được? Thế cho nên các thầy phải chuyên cần tinh tấn”.

Nếu làm được những điều như Đức Phật dạy, là chúng ta đã dưỡng tính tinh tấn của Phật – vốn luôn sẵn có ở trong ta.

Bài viết: “Tinh tấn trong đạo Phật khác với nỗ lực ở thế gian”
Nguyễn Đức Sinh/ Vườn hoa Phật giáo
Phật Học

Thần chú và thần lực

Người trì chú này nếu dụng tâm chân chánh muốn làm việc gì thì đều được hanh thông, nói ra lời gì cũng đều được người nghe tín thọ. Truyện ngắn “Trong cốp xe” của TK Vĩnh Hữu có đoạn: “Anh chú tâm niệm Phật, đúng ra là niệm Chuẩn Đề đà-la-ni, chỉ để thêm đạo […]
13

Người trì chú này nếu dụng tâm chân chánh muốn làm việc gì thì đều được hanh thông, nói ra lời gì cũng đều được người nghe tín thọ.

Truyện ngắn “Trong cốp xe” của TK Vĩnh Hữu có đoạn: “Anh chú tâm niệm Phật, đúng ra là niệm Chuẩn Đề đà-la-ni, chỉ để thêm đạo lực, thêm ý chí mà vượt qua thời khắc khó khăn thử thách, quên đi mệt nhọc thân xác…”

Tác giả chỉ nhắc qua việc “niệm chú” thật ngắn, không diễn bày hay kể lể gì thêm, lướt qua thật nhanh để trở về với mạch truyện. Chắc rất ít người lưu tâm để ý đến chi tiết vô cùng huyền diệu này, vì đang bị cuốn hút theo dòng trôi của câu chuyện “hết xăng, dắt xe đi bộ”.

Một tuần sau, trên website thư viện Hoa Sen (TVHS), thấy xuất hiện bài “Thần Chú Chuẩn Đề” của thầy Thích Nhuận Châu, xin trích đoạn:

“Thần chú Chuẩn Đề là một thần chú mầu nhiệm mà ba đời chư Phật đã từng tuyên thuyết và chư đại Bồ tát, thiên long bát bộ đã từng hộ niệm. Thần chú Chuẩn đề đã từng đem đến hạnh phúc, an lành cho vô lượng chúng sanh…

Khể thủ quy y Tô tất đế
Đầu diện đảnh lễ Thất câu chi
Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
Om Cale Cule Cundi Soha
Nam Mô Tát Đa Nẩm,
Tam Miệu Tam Bồ Đề,
Cu Chi Nẩm, Đát Điệt Tha.
Om Cale Cule Cundi Soha,
Om Cale Cule Cundi Soha…”

Vào những tháng ngày cuối năm 1984, đầu năm 1985, khi ngôi chùa tranh vách đất Long Quang (xã Bàu Cạn – huyện Long Thành – Đồng Nai) vắng bóng Thầy trú trì, chư tăng tứ tán mỗi người một phương, tôi bấy giờ đã phát nguyện xuống tóc, ăn chay trường, quyết bám trụ lại với vùng đất thân thương này, hằng ngày hằng đêm ra vào “coi ngó, trông nom” ngôi chùa nghèo vùng kinh tế mới cùng với bà con Phật tử Ấp 5 để nơi thờ phụng ngôi Tam Bảo không rơi vào cảnh hoang lạnh ưu sầu, đồng thời tự thân cũng dùng hết khả năng để duy trì, giữ gìn nề nếp sinh hoạt của Ban Hộ Niệm với đa số là các em thanh thiếu niên đang gặp phải chướng duyên “mất Thầy”…

Chính trong thời gian đó, tôi đã tụng niệm kinh Dược Sư, bản kinh do Hòa thượng Trí Quang dịch nghĩa (bản kinh này Me tôi được Hòa thượng ban tặng từ lâu, và đã chuyển gửi từ Nha Trang vào Long Thành cho tôi từ đầu năm 1984), và mỗi khuya vắng lặng đều trì “Chú Chuẩn Đề” với tâm nguyện được “chứng đắc đạo lực nhiệm mầu” để “cứu giúp người hoạn nạn nghèo khó, giốc lòng phụng sự đạo pháp”.

Một buổi gần trưa, tôi đi rảo một vòng từ chùa về quanh Ấp 5 như mọi ngày, khi ngang qua một khoảnh đất xanh rì và dầy đặc khoai mì, thấy có hai người đang lui cui cặm cụi thu hoạch. Tôi dừng lại, nhận ra là hai mẹ con thím Hai hàng xóm, mới hay đây là đất tăng gia sản xuất tách biệt với căn nhà của gia đình chú thím Hai, một gia đình Phật tử.

Thím Hai đau yếu mà phải dang mình dưới nắng để dùng dao chặt củ ra khỏi từng bụi khoai mì từ cô con gái chân yếu tay mềm nhổ lên theo từng hàng. Tôi đứng quan sát, thấy tốc độ thu hoạch quá chậm, chỉ mới được chừng hai mươi hàng mì giữa cỏ gai rậm rạp, trong khi chung quanh, trước mắt phải đến hai sào chưa chạm tới. Động lòng, tôi băng vào, chào hỏi, rồi thưa với thím Hai:

“Để con nhổ phụ, thím với em lo chặt và gom vô bao cho nhanh, chứ trưa nắng lắm rồi!”

Lúc đó tôi đang mặc chiếc áo thun tay ngắn, nên đề nghị em gái cởi chiếc áo khoác tay dài và đôi găng tay của công nhân cao su ra cho tôi mượn tạm để “bảo hộ lao động” trước khi bắt tay nhổ những bụi khoai mì lên khỏi đất cứng.

Vậy rồi, tôi niệm ba lần “Chuẩn Đề đà-la-ni”, bắt đầu cứ hít một hơi thật sâu, khom xuống, hai tay nắm gần gốc bụi mì, thở ra, nín hơi, lay gốc, nhổ lên, thở ra, bước tới, khom xuống, tiếp tục, tiếp tục với tốc độ vừa phải, đi theo từng hàng mì từ phải trái, từ phải qua trái rất trật tự trong bình thản… Tôi chỉ biết là mình đang làm công việc nhổ mì, không nghĩ gì khác, không ngó ngàng gì đến chung quanh, thao tác liên tục đều đặn không nhanh hơn cũng không chậm lại, không nghỉ giải lao, vậy mà không hề thấy mệt, hơi thở vẫn nhịp nhàng ra vào không hỗn hễn… cho đến khi bụi mì cuối cùng của hàng cuối cùng được bứng lên khỏi mặt đất mới dừng lại, rảo mắt nhìn quanh, và nhìn phía sau.

Nam mô Phật! Tôi đã nhổ xong hơn một sào rưỡi khoai mì chỉ qua một tăng, đúng là một tăng, không có tăng hai tăng ba, và hai mẹ con thím Hai không thể đuổi theo tôi kịp để chặt củ thu gom. Cả hai mẹ còn đang còn loay hoay cặm cụi ở giữa bãi chiến trường, nghĩa là chỉ mới chặt gom củ được một sào, còn một sào mì đã nằm phơi những bụi bụi củ củ trên mặt đất theo hàng theo lối, chứ không phải ngổn ngang lộn xộn, đang chờ được vào bao chở về nhà.

Vì lúc đó mới cảm thấy… mệt, tôi ngồi bệt xuống, xếp bằng, cởi áo khoác, tháo găng tay ra để một bên, đặt hai lòng bàn tay úp xuống đất, điều tức hơi thở, cứ y như là đang hút điện từ dưới lòng đất chạy lên rồi truyền vào nhục thân. Em gái băng lại chỗ tôi ngồi nghĩ, lẳng lặng nhặt lại chiếc áo và đôi găng, nhìn tôi với ánh mắt tràn đầy “kính nể”, nói:

“Không ngờ anh khỏe đến vậy. Làm một hơi không nghỉ, quá kinh ngạc!”

Tôi còn phải kinh ngạc với chính mình, huống chi người khác, vì ai cũng thấy biết rõ tôi không phải là một chàng trai vai u thịt bắp, cường tráng vạm vỡ, hay “dũng sĩ lao động”, mà chỉ là dân thị thành trôi dạt với vóc dáng thư sinh chỉ giỏi đàn ca vẽ vời thơ thẩn… Chỉ chừng mười lăm phút nghỉ ngơi phục sức, tôi đã khỏe lại như lúc mới bước vào “cuộc chiến”.

Còn một vài câu chuyện ly kỳ, nhiệm mầu khác nữa đã diễn ra trong thời gian tôi tu trì “Chuẩn Đề đà-la-ni”, nhưng tôi sẽ không kể thêm ra đây. Những chuyện này thuộc về “mật tông”, mà mật thì đúng ra phải bí mật, giữ kín giấu kỹ, không phơi bày ra, không được khoe khoang, chỉ ai chứng được và những người trong cuộc mới biết và hiểu được.

Hôm nay, nhân ngày Thái tử Tất – Đạt – Đa rời bỏ kinh thành, xuất gia cầu đạo giải thoát, tôi chỉ xin kể lại chuyện “nhổ mì” đã xảy ra cách đây đã tròm trèm 35 năm, lâu rồi, cũ rích, chỉ có ý muốn truyền đạt lại cho mọi người một điều rằng:

“Hãy luôn giữ tín tâm, niềm tin không mảy may suy suyển hao vơi với Phật pháp nhiệm mầu!”

Những người được nhắc trong câu chuyện này, người trong cuộc, nay vẫn còn sống sờ sờ, và chắc cũng không quên chuyện “nhổ một tăng gần hai sào mì”, sẽ làm chứng cho tôi nếu ai đó nghi ngờ truy tra dò hỏi!
Tôi nhớ rõ, hồi đó, khi chứng đắc được “đạo lực nhiệm mầu” sau một tháng tu trì, tôi đã nhờ một đạo hữu chở bằng xe đạp vượt đường xa đến chùa Bửu Lâm để xin yết kiến, tham vấn Thầy Kiến Tánh. Khi nghe tôi tường thuật đầu đuôi, Thầy không ngạc nhiên chút nào, chỉ giải khuyên:

“Sở dĩ không gọi Phật chú, mà gọi là Thần chú, vì người tu trì đà-la-ni sẽ luôn được chư vị Long Thần Hộ Pháp theo phò hộ, truyền thần lực, chứ không phải đức Phật hay vị Bồ Tát nào trực tiếp ban truyền đạo lực cho ta. Điều quan trọng nhất mà con phải luôn nhớ, tu trì Mật tông, hành trì pháp nhiệm mầu là điều rất tốt, rất quý báu, nhưng đó là “Con Dao Hai Lưỡi”! Nếu chỉ một niệm dấy lên vì tư lợi bản thân, nghĩ đến danh, đến lợi, đến phước đến đức cho mình mà hành trì thì sẽ tác hại vô cùng…”

Trong bài pháp của Thầy Thích Thiện Châu đăng trên TVHS vừa rồi còn có đoạn:

“Người trì chú này nếu dụng tâm chân chánh muốn làm việc gì thì đều được hanh thông, nói ra lời gì cũng đều được người nghe tín thọ.”

Dụng tâm chân chánh. Phải hiểu rõ nghĩa là gì, và phải luôn nhớ điều đó!

Thêm một chuyện nữa mà tôi cần nhắc đến trước khi chấm hết bài tự sự này:

Từ hồi đó, xin lấy cột mốc 1984, đến nay, nhờ có thời gian dài trì tụng Kinh Dược Sư, và luôn luôn về sau này trì “Dược Sư Quán Đảnh Chơn Ngôn”, nên tôi đã vượt qua được nhiều lần bệnh nặng, bệnh duyên nguy nan (tim, gan, phổi, dạ dày, ruột… đều mắc bệnh), gặp được nhiều quý nhân giúp đỡ đúng lúc, nhiều bác sĩ mát tay chữa trị nhanh chóng bình phục. Thật kỳ diệu là trong suốt 35 năm qua, trong từ điển cuộc sống của tôi không hề có từ “nhập viện, xuất viện”, vì chưa lần nào tôi nằm trên giường của bất cứ bệnh viện, hay trạm xá, bệnh xá nào.

Kệ, ốm ốm xương xẩu mà không bệnh là quý rồi, gìn giữ tinh thần và niềm tin cho vững chãi, và chỉ sợ Tâm Bệnh mà thôi.

Nam mô Thiên Long Hộ Pháp chư tôn chứng minh!

Bài viết: “Thần chú và thần lực”
Tâm Không  – Vĩnh Hữu/ Vườn hoa Phật giáo
Phật Học

Người tu phải dẹp bỏ tham sân si

Phiền não do tham sân si mà ra. Nếu chúng ta biết chừa, biết ngăn đón tham sân si thì phiền não sẽ giảm dần. Nếu dẹp được mây phiền não thì ông Phật của mình hiện ra, không cần tìm kiếm ở đâu hết. Sống được với ông Phật thật của chính mình, đó […]
20

Phiền não do tham sân si mà ra. Nếu chúng ta biết chừa, biết ngăn đón tham sân si thì phiền não sẽ giảm dần. Nếu dẹp được mây phiền não thì ông Phật của mình hiện ra, không cần tìm kiếm ở đâu hết. Sống được với ông Phật thật của chính mình, đó là người biết tu.

Trong kinh kể lại, một hôm Phật hỏi các thầy Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, nếu trong thất của các ông có ba con rắn độc chui vô thì các ông có ngủ ngon không?

Các thầy thưa:

– Bạch Thế Tôn, chúng con ngủ không ngon.

Phật hỏi:

– Làm sao các ông ngủ mới ngon?

Các thầy thưa:

– Bạch Thế Tôn, chừng nào chúng con đuổi hết ba con rắn độc ra khỏi thất thì ngủ mới ngon.

Phật kết thúc:

– Ba con rắn độc tuy độc nhưng không độc bằng ba thứ tham, sân, si. Tại sao? Vì rắn độc cắn chỉ chết thân đời này thôi, còn tham sân si hại không những đời này mà còn qua đến nhiều đời khác nữa.

Đây là điều hết sức cụ thể. Người tu phải dẹp bỏ ba con rắn độc tham, sân, si mới có thể tu được. Làm sao để dẹp chúng? Nóng giận là rắn hổ lửa. Nếu nó ở trong nhà mình, chúng ta phải lấy roi nhẫn nhục để đuổi. Nhẫn là an nhẫn, nhịn nhục, dần dần nóng giận sẽ lắng dịu. Như ai nói câu gì trái ý làm mình nổi giận, miệng la tay múa. Tất cả những hành động khiến người ta khổ gốc từ nóng giận mà ra. Muốn nhịn, có người nói uống nước cho mát, nhưng nước qua khỏi cổ thì nóng lại nữa.

Bây giờ tôi đề nghị với quý vị một lối nhẫn thực tế hơn. Khi vừa nổi nóng chưa kịp mở miệng, chúng ta liền đọc câu thần chú này: “Nói là ngu, nín là khôn”. Cứ đọc tới đọc lui một hồi thì cơn giận hết. Vì sao? Vì khi nổi nóng mình sẽ nói bậy. Nói bậy tức là ngu. Vì vậy ta tự nhắc nói là ngu, còn im lặng là khôn. Cứ tự nhắc mình như vậy hoài sẽ không nói trong lúc đang nóng. Nhờ thế ta tránh gây khẩu nghiệp, tránh luôn cả thân nghiệp không tốt. Tự nhắc như thế chúng ta yên được một lúc. Nhưng sau đó nhớ lại cũng nổi nóng nữa, nên phải bước qua chặng thứ hai là quán từ bi.

Từ bi là sao? Từ bi là thương mến tất cả mọi người như thân nhân của mình. Nhưng họ chửi thì làm sao ta thương được? Chúng ta phải dùng trí suy xét kỹ, kẻ nói những điều thô lỗ vô lý là người tỉnh hay mê? Đó là người mê. Nếu người mê thì ta phải tỉnh mới khôn ngoan. Người tỉnh thì phải thương kẻ mê, chứ đâu thể giận họ được. Như vậy chặng thứ nhất là nhẫn để ngăn chặn sự nóng giận bộc phát, đến chặng thứ hai mới bứng tận gốc sân hận.

Đến tham làm sao trị? Tham dụ như rắn hổ mang. Loại rắn này thường chạy tứ tung, không chịu ở yên một chỗ. Tham có năm thứ: tham tài, tham sắc, tham danh, tham ăn, tham ngủ. Chúng ta trị tham như thế nào?

Tham tiền thì lấy thuốc vô thường trị. Tiền của tuy có nhưng sẽ mất bất cứ lúc nào. Phật dạy tiền của thường bị năm nhà lấy: một là bị nước lụt cuốn trôi, hai là bị lửa cháy tiêu, ba là bị trộm cướp, bốn là bị con bất hiếu phá, năm là bị quan quyền không lương thiện chiếm đoạt. Tiền của chúng ta tích lũy, gìn giữ được một thì muốn thêm hai, được hai muốn thêm ba bốn… cứ muốn tích lũy thêm hoài gọi là tham. Nếu chúng ta nhớ lại của cải nhiều, nhưng gặp tai nạn lửa cháy, nước lụt, con bất hiếu phá, hoặc bị trộm cướp rình rập cướp lấy… thì sẽ tiêu tan hết. Nên đó là của cải không bảo đảm.

Muốn được bảo đảm hơn chúng ta phải tu pháp bố thí. Giả sử một ngàn đồng đủ cho chúng ta sống trong một tháng, nếu mình có ngàn mốt ngàn hai thì tính để dành, đó cũng là hơi tham một chút. Bây giờ có dư ta giúp đỡ những người thiếu kém hơn mình, đó là bố thí. Vì vậy nói bố thí độ xan tham. Tất cả của cải thế gian đều có thể bị người ăn cắp, chỉ nghiệp lành của mình là không ai lấy. Cho nên đối với tham tài chúng ta dùng hai thứ thuốc để trị: một là quán vô thường, hai là bố thí.

Đến bệnh tham sắc. Đây cũng thuộc loại bệnh trầm trọng. Bệnh này lấy thuốc quán bất tịnh để trị. Quán thân nhớp nhúa bẩn thỉu, tự nhiên bớt tham sắc. Vì sao chúng ta dính mắc với sắc đẹp? Vì nhìn mọi người qua dáng vẻ bên ngoài, chứ không thấy tột cùng phần bên trong. Đức Phật thấy rõ con người chỉ là một đãy da hôi thối. Đó là lẽ thật mà chúng ta lại không dám nhận. Nghe hôi liền kiếm nước hoa bôi lên cho thơm, thấy đen liền lấy phấn thoa lên cho trắng. Đó là đánh lừa nhau, chứ không có lẽ thật. Sự thật thì từ đầu tới chân, chỗ nào cũng nhớp hết. Nếu thân thật đẹp đẽ, sang trọng, lẽ ra trong ngoài đều phải tốt đẹp, nhưng đằng này vừa có rịn chảy chỗ nào thì ta liền nghe hôi hám nhơ nhớp.

Đó là Phật dạy chúng ta thấy đúng như thật giá trị của con người. Khi đã thấy thân là đãy da hôi thối, mình có muốn tìm vài ba đãy da hôi thối ở chung nữa không? Một mình đã chịu không nổi rồi, còn thêm hai ba cái nữa thì quả là khổ! Nhờ quán vậy chúng ta không còn đắm mê sắc đẹp. Đó là chưa nói sắc đẹp không thể tồn tại lâu dài. Chỉ lứa tuổi thanh niên vẻ đẹp mới sung mãn, chứ tới bảy tám mươi tuổi thì da nhăn má hóp, lúc đó hết đẹp rồi. Cái đẹp chỉ tạm một thời mà người ta lại lầm mê, đắm đuối theo nó.

Phật dạy quán thân này nhơ nhớp, là quán ngay nơi mình chứ không phải quán nơi người khác. Nhiều người không biết, nghe Phật dạy quán thân bất tịnh, rồi thấy ai dễ thương liền quán trên người đó, quán một hồi thương thêm! Phải quán ngay nơi mình, biết rõ thân nhơ nhớp, gớm thân mình thì thân người khác cũng sẽ gớm. Quán bất tịnh thành công thì bệnh tham sắc không còn. Nên nói đó là thuốc trị bệnh tham sắc.
Đến tham danh làm sao trị? Tham danh là tham có chức quyền. Ví dụ người ra ứng cử quốc hội có lo không? Lo làm sao thu hút được quần chúng, nên cũng mất ăn mất ngủ. Kế lại lo cạnh tranh giữa những người được lòng dân, bởi đâu phải chỉ có mình ứng cử, như vậy khổ không? Nếu kết quả mình rớt thì khổ vô cùng, còn đậu mới thấy như vui nhưng thật ra cũng không vui. Vì lãnh trách nhiệm với dân phải làm cho được, nếu làm không được thì bị quở, như vậy cũng lo nữa. Đến khi mất chức lại càng khổ hơn. Như vậy trước khổ, giữa khổ, sau cũng khổ; ba thời đều khổ chứ sướng ích gì! Khổ mà người ta cứ tưởng vui, cho nên mới giành giựt với nhau. Người tu biết rõ tham danh là nhân đau khổ. Quán như thế thì trị bệnh tham danh.

Đến tham ăn, có ai không tham ăn đâu. Đại đa số đều thích ăn ngon. Như vậy, bệnh tham ăn làm sao để trị. Chúng ta phải dùng hai thứ thuốc: một là quán vô thường, hai là quán bất tịnh. Cái ngon không tồn tại được lâu, chỉ một phút nửa phút khi nhai, lúc thức ăn còn ở lưỡi thấy ngon, nhưng nuốt qua khỏi cổ rồi thành hôi dơ. Như vậy thức ăn uống chỉ là tạm bợ, ngon trong chốc lát, chứ không bền. Chúng ta ăn cốt để sống khỏe mạnh, chứ không phải ăn cốt để ngon. Nhiều khi vì muốn ăn ngon mình phải tốn hao tiền của gấp mấy lần ăn bình thường. Rõ ràng do tham ăn mà khổ, đó là chưa nói ăn ngon quá sanh bệnh. Cho nên việc ăn uống hạn chế vừa phải, đừng đòi hỏi, đừng tham lam. Đó là biết quán vô thường, quán bất tịnh để trừ bệnh tham ăn.

Đến tham ngủ lấy gì để trị? Tham ngủ là bệnh trầm trọng chung cho nhiều người. Ví dụ Phật tử biết tu, hẹn năm giờ khuya thức dậy tụng kinh, hoặc niệm Phật, tọa thiền. Nhưng đêm đó ngủ ngon giấc, nghe đồng hồ reo cứ lăn qua trở lại, một lát rồi thôi cho nó qua luôn. Đó là bệnh tham ngủ, cũng gọi là bệnh giải đãi, lười biếng. Đối với bệnh tham ngủ, có hai pháp để trị. Một là tinh tấn trị giải đãi, hai là quán vô thường. Khi đang ngủ, nghe tiếng kẻng hoặc đồng hồ reo không muốn thức, thì phải nhớ rằng ngày nay mình khỏe mạnh, nhưng chắc gì ngày mai cũng khỏe, nên giờ nào khỏe mạnh thì phải ráng tu, để mai mốt lỡ chết làm sao tu được. Đó là quán vô thường để đánh thức, để lay tỉnh chúng ta ráng tu.

Phật thường dạy phải quán vô thường như cứu lửa cháy đầu. Lửa rớt một đốm lên đầu, ta chờ năm mười phút sau mới phủi hay phủi liền? Vừa thấy lửa cháy đầu thì phải phủi liền. Cũng vậy, ngày nay chúng ta khỏe mạnh, ngày mai chắc gì khỏe mạnh. Vì vậy ngày nào khỏe mạnh thì ráng tu ngày ấy, không chần chờ. Đó là chúng ta biết thân này vô thường, không bảo đảm, lúc nào làm được gì thì cố gắng làm, không bỏ qua.

Nhờ quán vô thường ngay lúc đó ta trỗi dậy, đi rửa mặt rồi tụng kinh niệm Phật hoặc tọa thiền. Nếu cứ lăn qua trở lại dật dựa hoài thì không trỗi dậy nổi, con ma ngủ sẽ làm chủ mình. Quán vô thường xong, kế đó lấy roi tinh tấn đánh mạnh một cái, bắt nó trỗi dậy rửa mặt thì mình tu được, không bị mất thì giờ. Đó là phương pháp trị bệnh tham ngủ.

Như vậy, năm bệnh tham kể trên đều có thuốc trị. Chỉ vì Phật tử lâu nay không biết thuốc trị, nên gặp bệnh không biết làm sao. Trị được năm bệnh đó rồi thì chúng ta hết tham, hết sân.

Đến sau cùng là si. Si mê là gốc đau khổ nhất của cuộc đời. Nói theo đúng thứ lớp thì trước là si, rồi tới tham, sân. Sân là ngọn, si là gốc. Tại sao? Si mê là thấy không đúng như thật. Sự vật trắng mà mình thấy đen, xấu mà cho tốt, đó là si mê. Si mê là thấy theo ảo tưởng, trí tuệ là thấy đúng như thật. Người nào sống theo ảo tưởng sai lầm đó là người si mê.

Chữ si mê trong nhà Phật có chia từng loại. Loại cạn nhất không biết phân biệt thiện ác, tội phúc, chánh tà. Chúng ta tu phải biết rõ gì là thiện gì là ác. Trong nhà Phật dạy làm gì được tốt đẹp, sáng suốt, đem lại lợi ích cho mọi người, đó là thiện. Ngược lại làm điều xấu xa, đem lại nguy hiểm cho mọi người, đó là ác.

Phiền não do tham sân si mà ra. Nếu chúng ta biết chừa, biết ngăn đón tham sân si thì phiền não sẽ giảm dần. Nếu dẹp được mây phiền não thì ông Phật của mình hiện ra, không cần tìm kiếm ở đâu hết. Sống được với ông Phật thật của chính mình, đó là người biết tu, biết trở về cái cứu kính chân thật, nguồn an lạc vĩnh cửu. Ngược lại, chạy theo tâm suy nghĩ lăng xăng, chúng ta chỉ chuốc đau khổ mà thôi.

Chúng ta phải luôn tỉnh để tự cứu mình, chứ không ai cứu mình được. Nếu mê thì đi trong trầm luân muôn kiếp, còn tỉnh thì lần lần thoát khỏi phiền não, vượt ra vòng luân hồi sinh tử. Đó là chỗ cao siêu, cứu kính trong đạo Phật.

Bài viết: “Người tu phải dẹp bỏ tham sân si”
Thích Thanh Từ/ Vườn hoa Phật giáo